GMT+7

Bàn về vị thế và cầu lao động giản đơn ở nước ta trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0

(TDB) - Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định vị thế và cầu lao động giản đơn ở nước ta trong thời đại cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy, vị thế của lao động giản đơn trong một số ngành, lĩnh vực dịch vụ ngày càng được khẳng định về chất nhưng cầu loại hình lao động này nói chung ngày càng giảm mạnh tạo nên bức tranh lao động tự do, lao động trong khu vực phi kết cấu ngày càng lớn nếu chúng ta không có giải pháp đột phá và mang tầm chiến lược.

1. Đặt vấn đề

1.1. Về lao động giản đơn

Quan niệm về lao động giản đơn, lao động phổ thông, lao động giá rẻ hay lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (lao động chưa qua đào tạo) ở nước ta đã được các chuyên gia lao động đề cập khá nhiều. Tuy nhiên, thực chất nội hàm của 4 khái niệm này cũng như mối quan hệ giữa chúng còn chưa được quan tâm nhiều và làm rõ.
 
 TS. Nguyễn Văn Thuật trình bày tại Diễn đàn

Một mặt, điểm xuất phát tiếp cận trong nghiên cứu này thì lao động giản đơn hay lao động chưa qua đào tạo được hiểu gần như là tương đồng[1]. Bởi thực tế công việc phổ biến mà họ đảm nhận cũng thường được cho là việc làm không cần đến một trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định.

Mặt khác, cũng cần phân biệt sự khác nhau giữa việc làm và lao động giản đơn. Khái niệm thứ nhất chỉ hoạt động, công việc của người lao động nói chung, khái niệm thứ hai được hiểu là người lao động chưa qua đào tạo để đạt được một trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định. Như vậy, có thể thấy, lao động đã qua đào tạo đều có thể gia nhập vào vị thế của lao động giản đơn vì một lý do nào đó (cử nhân cao đẳng, đại học thất nghiệp hoặc thiếu việc làm chạy xe ôm, chạy bàn, làm nhân viên bán và giao hàng,...), trong khi lao động giản đơn khó có thể gia nhập vào vị thế của lao động đã qua đào tạo nếu không được đào tạo và công nhận (người lao động đã tốt nghiệp phổ thông trung học không thể trở thành kỹ sư nông nghiệp nếu không theo học và tốt nghiệp đại học ngành nông nghiệp,...). Nói cách khác, việc làm giản đơn được hiểu là công việc, hoạt động mà người lao động bình thường đều có thể đảm nhận. Đó chính là những công việc mang tính phổ biến nói chung và những công việc phục vụ nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội nói riêng.

1.2. Về cách mạng công nghiệp 4.0

Thế giới đang bước vào giai đoạn đầu của CMCN 4.0 và mức độ tham gia vào cuộc cách mạng này ở mỗi quốc gia cũng khác nhau bởi trình độ phát triển của quốc gia đó. Nước ta đang từng bước chủ động tham gia vào cuộc cách mạng này và đang xây dựng chiến lược quốc gia về CMCN 4.0. Điều này cũng cho thấy, việc xây dựng và phát triển nền kinh tế số cũng bắt đầu được quan tâm.

Đặc trưng của CMCN 4.0 là sự cải tiến công nghệ một cách nhanh chóng thông qua việc tăng cường sử dụng truyền thông di động và kết nối internet (“internet vạn vật”), dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ robot, phương tiện tự điều khiển, công nghệ in 3D, nano và công nghệ sinh học, công nghệ điện toán[2]

Thực tế cho thấy, thời đại CMCN 4.0 dù mới khởi đầu nhưng đang trở thành chủ đề “nóng” thu hút được nhiều nghiên cứu, phân tích và bàn luận trên diện rộng với nhiều cách và mức độ tiếp cận khác nhau. Điểm chung những bàn luận và nghiên cứu đều cho rằng CMCN 4.0 là cuộc cách mạng chủ yếu dựa trên tiềm năng và khai thác tài nguyên trí tuệ của con người để cho ra đời những dây chuyền sản xuất hiện đại, những robot đa năng, những nhà máy thông minh,... vừa để giúp sức lao động hoặc có thể đảm nhận công việc thay cho con người trong lao động, sản xuất với hiệu quả và năng suất cao hơn.

Có thể nói, trong xu thế phát triển của cuộc cách mạng này, công việc nặng nhọc đang được chuyển giao cho máy móc, công việc đòi hỏi kỹ năng tinh tế và tính chính xác hay công việc được thực hiện theo quy trình lập sẵn cũng đang được robot đảm nhận ngày càng nhiều dưới sự giám sát và điều khiển của con người. Vì thế, dự báo trong tương lai, chủ yếu sẽ chỉ còn những lao động có tiềm năng về tư duy trí tuệ, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với nhu cầu phát triển và lao động giản đơn đảm nhận những công việc mang tính chất dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu ngày càng phong phú trong đời sống xã hội với đòi hỏi những kỹ năng mềm ngày càng cao[3]. Đây cũng là tính tất yếu trong phân công lao động xã hội thời đại CMCN 4.0. 

Điều quan trọng nữa ở góc độ lý luận cũng cần lưu ý. Đó là, nội hàm của khái niệm “lao động giản đơn” trong thời đại CMCN 4.0 cũng đang có sự biến đổi về chất và được hiểu rộng hơn, linh hoạt hơn. Có nghĩa là, lao động giản đơn cũng hàm ý hướng đến làm chủ những công nghệ tương ứng và tính chuyên nghiệp hóa được tích lũy qua kinh nghiệm thực tiễn công việc gắn với kỹ năng mềm để đáp ứng những nhu cầu cơ bản, thiết yếu ngày càng phong phú trong đời sống xã hội. Đây là cơ sở quan trọng giúp cho lao động giản đơn nâng tầm vị thế của mình hoặc tạo dựng cơ hội để chuyển sang vị thế của loại hình lao động cao hơn.

2. Thực trạng lao động giản đơn ở nước ta

Là một quốc gia đang hội nhập quốc tế sâu rộng và nền kinh tế có độ mở cao nhưng lao động trong nền kinh tế nước ta chỉ “vàng” về số lượng, chứ chưa “vàng” về chất lượng bởi có gần 77% (hơn 43 triệu lao động) lực lượng lao động của cả nước không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Đây là một nút thắt lớn trong trục phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và được cho là không dễ khai thông trong “một sớm một chiều” bởi một lực lượng lao động giản đơn vẫn còn quá đông như đã nêu và chưa có dấu hiệu giảm nhanh trong suốt hàng thập kỷ qua. Có thể phác họa bức tranh về thực trạng của loại hình lao động này trên 2 bình diện sau đây:

2.1. Về số lượng

Với hơn 43 triệu lao động giản đơn hiện nay, phần lớn không phải là lao động làm công ăn lương trong khu vực chính thức, mà chủ yếu là những lao động nông nghiệp, lao động tự do, lao động trong khu vực phi chính thức. Có nhiều con số, tiêu chí để minh chứng cho vấn đề này, chẳng hạn như: lực lượng lao động hiện nay của nước ta ước tính hơn 56 triệu người, trong đó có hơn 23 triệu người là lao động làm công ăn lương trong khu vực chính thức, trong số hơn 23 triệu lao động này thì phần lớn là lao động đã qua đào tạo[4].

Số liệu thống kê cho thấy, số lao động giản đơn hàng năm của nước ta gần như không giảm (ở các năm 2015-2017) hoặc giảm còn rất chậm, giảm không đáng kể trong giai đoạn 2012-2017 (Biểu 1). Đây thực sự là một báo động “đỏ” đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong bối cảnh CMCN 4.0 có tác động ngày càng mạnh đến nền kinh tế nước nhà nếu chúng ta không có giải pháp phù hợp và đột phá để giảm nhanh số lao động giản đơn theo hướng tăng lao động có trình độ, tay nghề phù hợp với nhu cầu xã hội. Minh chứng cho điều này là lực lượng lao động nói chung của cả nước vẫn tăng nhanh, trong khi lao động giản đơn giảm chậm hoặc chững lại. Cụ thể là, lực lượng lao động của nước ta năm 2017 đã tăng thêm 2,9 triệu người so với năm 2012, trong khi lao động giản đơn chỉ giảm được 0,5 triệu người năm 2017 so với năm 2012.

Biểu 1: Lực lượng lao động và lao động giản đơn ở Việt Nam (Triệu người)

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của nhóm tác giả.

Xét về cơ cấu lao động giản đơn theo khu vực thành thị/nông thôn năm 2017 cho thấy (Xem biểu 2), lao động giản đơn ở nông thôn cao gấp 3 lần so với thành thị (75% đối với nông thôn, 25% đối với thành thị). Đây được cho là một lực cản lớn đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta. Xét theo giới tính thì có sự khá cân đối giữa nam và nữ (50,3% với nam, nữ 49,7%).

Biểu 2: Cơ cấu lao động giản đơn năm 2017 (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của nhóm tác giả.

Mặc dù hơn 98% lao động giản đơn có việc làm (42,4 triệu người) nhưng loại hình lao động này được cho là có số lượng lao động thiếu việc làm nhiều nhất và chủ yếu thực hiện những công việc không ổn định, công việc có thu nhập thấp. Đặc biệt là lao động ở nông thôn và lao động nông thôn di cư ra đô thị. 

Biểu 3: Lao động giản đơn có việc làm (Triệu người)

Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của nhóm tác giả.

2.2. Về tố chất và kỹ năng mềm

- Về tố chất

Tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi, “hay lam hay làm” trong lao động sản xuất là tố chất, đức tính của người Việt Nam nói chung, người lao động nước ta nói riêng. Do đó, nếu lao động giản đơn được đào tạo chuyên môn kỹ thuật hay giáo dục nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội để chuyển sang vị thế lao động cao hơn thì nền kinh tế của nước ta đã có sự phát triển nhanh và bền vững hơn. Tuy nhiên, công tác đào tạo và giáo dục nghề nghiệp cho loại hình lao động này của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế do cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan nên tố chất của người Việt nói chung vẫn còn chưa được tận dụng và phát huy triệt để. Con số hơn 43 triệu lao động giản đơn, chiếm gần 77% lực lượng lao động của cả nước là minh chứng rõ nhất về vấn đề này.

- Về kỹ năng mềm

Bên cạnh tố chất của người lao động còn chưa được tận dụng và phát huy như đã nêu trên, điều đáng lo ngại nữa đối với lao động giản đơn chính là kỹ năng mềm còn rất yếu. Như vậy, lao động giản đơn của nước ta đang đứng trước vấn đề kép: vừa yếu kỹ năng cứng (không có chuyên môn kỹ thuật), vừa yếu kỹ năng mềm (thiếu kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian và làm người khác hài lòng,...).

Khảo sát mới đây của Viện Khoa học Lao động và Xã hội về “Nhu cầu về kỹ năng trong kỷ nguyên công nghệ mới” tại doanh nghiệp đã cho thấy, việc thiếu kỹ năng mềm ở người lao động đang ở mức nghiêm trọng hơn thiếu kỹ năng cứng, bởi các kỹ năng kỹ thuật có thể được đào tạo tại doanh nghiệp nhưng các kỹ năng mềm cần cả một quá trình mới đạt được[5].

3. Vị thế và cầu lao động giản đơn ở nước ta trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.

3.1. Vị thế của lao động giản đơn

Để đảm bảo phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, lao động giản đơn trong một số ngành, lĩnh vực dịch vụ luôn giữ vị thế và vai trò khá quan trọng trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia. Thời đại CMCN 4.0 là một giai đoạn mới của tiến trình phát triển kinh tế thị trường.

Nghiên cứu cho thấy, trong thời đại này, dù robot, nhà máy thông minh hay dây chuyền sản xuất hiện đại hoàn toàn có thể thay thế, làm tốt hơn người lao động ở một số công việc nhất định nhưng điều này sẽ không thể diễn ra theo hướng một chiều là việc làm truyền thống trong một số ngành nghề giảm đi, thậm chí sẽ mất đi, mà bên cạnh đó là xu hướng việc làm mới cũng được tạo ra cho người lao động nói chung, lao động giản đơn làm việc trong một số ngành, lĩnh vực dịch vụ phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội ngày càng đa dạng ở các đô thị nước ta nói riêng, như lao động phục vụ trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn; lao động giúp việc gia đình; lao động làm việc thông qua công nghệ kết nối cung cầu như của Grab và Go-Viet,... Do vậy, vị thế và vai trò của lao động giản đơn trong một số ngành, lĩnh vực như đã nêu trên được cho là ngày càng được nâng tầm trong thời kỳ đầu của CMCN 4.0 ở nước ta.

3.2. Cầu lao động giản đơn

Thực tế và dự báo cho thấy, CMCN 4.0 đã có tác động nhất định và tác động ngày càng nhanh đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị tại nước ta, trong đó lĩnh vực lao động, việc làm được cho là ngày càng bị tác động mạnh bởi công nghệ hiện đại đang có sự phát triển vượt bậc và được cho là các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp không thể không quan tâm ứng dụng vào sản xuất để đạt được năng suất cao hơn trong phát triển. Do đó, điều này đang bắt đầu làm thay đổi môi trường làm việc nói chung, môi trường sản xuất nói riêng và được cho là sẽ có tác động mạnh đến cơ cấu, vị trí việc làm của lao động làm công ăn lương ở nước ta. Cụ thể là robot dần dần thay thế nhân lực trong nhà máy, trí tuệ nhân tạo dần dần thay thế nhân viên văn phòng trong một số lĩnh vực nhất định,...

Trong khi, lực lượng lao động giản đơn của nước ta hiện nay vẫn còn rất lớn và phần lớn là lao động nông nghiệp, lao động tự do, lao động trong khu vực phi kết cấu. Điều này chứng minh rằng cầu loại hình lao động này đã khá ít trong khu vực chính thức, nay sẽ càng ít hơn bởi các doanh nghiệp, nhà máy đều phải chú ý đến xu hướng áp dụng tự động hóa nói riêng, công nghệ hiện đại đa tiện ích nói chung để nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của mình, điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ cắt giảm nhân lực không phù hợp. Điển hình như doanh nghiệp trong ngành dệt may, điện tử và lắp ráp xe hơi, xe gắn máy ở nước ta hay như taxi truyền thống đang phải đối mặt với việc bị giảm mạnh doanh thu và qua đó giảm lao động bởi sự ra đời và phát triển của Grab và Go-viet,...

Từ những điều nêu trên, có thể thấy, dù vị thế của lao động giản đơn trong một số ngành, lĩnh vực dịch vụ được nâng tầm nhưng nhu cầu nhân lực giản đơn nói chung trong doanh nghiệp, nhà máy ở nước ta sẽ ngày càng giảm mạnh bởi giới chủ các công ty, nhà máy đang dịch chuyển từ tận dụng lao động giản đơn, giá rẻ sang tận dụng máy móc hiện đại. Nói cách khác, các thiết bị tự động hóa xuất hiện ngày càng nhiều tại các doanh nghiệp, nhà máy đồng nghĩa với việc làm của người lao động sẽ ít đi.

Theo nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế[6], cộng đồng ASEAN đang trong giai đoạn chuyển đổi; công nghệ dần dần thay thế sức lao động. Hai ngành sẽ chịu tác động nhiều nhất trước xu hướng tự động hóa là dệt may, da giày và điện tử. Trong đó, dự báo khoảng 86% người lao động Việt Nam trong ngành dệt may, da giày có thể phải đối mặt với nguy cơ mất việc cao[7] vì đây là ngành có đặc điểm chủ yếu là sử dụng lao động giản đơn, có kỹ năng tay nghề thấp và 3/4 lao động làm công ăn lương trong ngành sản phẩm điện - điện tử có thể sẽ bị thay thế bởi robot,...

4. Kết luận

Dù vị thế của lao động giản đơn trong một số ngành, lĩnh vực dịch vụ ở nước ta ngày càng được khẳng định về chất bởi nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội ngày càng phong phú và đa dạng, nhưng xu hướng phát triển của cuộc CMCN 4.0 đòi hỏi cấp bách nước ta ngày càng phải giảm nhanh số lao động giản đơn theo hướng tinh gọn lại để gia tăng nhanh lao động có trình độ, tay nghề phù hợp với nhu cầu xã hội. Đây là yêu cầu khách quan, cấp bách và cũng là cơ hội tốt để nước ta giảm nguồn cung lao động lớn về lượng, thấp về chất bằng cách đào tạo, bồi dưỡng có chọn lọc nguồn nhân lực này. Cụ thể là đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, tay nghề, kỹ năng cho lao động giản đơn vừa để đáp ứng tốt nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, vừa là cơ sở để mỗi lao động tự khẳng định mình để có thể gia nhập vào vị thế của loại hình lao động cao hơn mà sự phát triển đang cần, vừa để thúc đẩy bình đẳng xã hội, vừa để tận dụng được tối đa cơ hội mà CMCN 4.0 tạo ra. Nếu không, nước ta sẽ đối diện với nguy cơ về một bức tranh lao động tự do, lao động trong khu vực phi kết cấu ngày càng phình ra trong nền kinh tế với nhiều tiềm ẩn khó lường do thích nghi thụ động vào sân chơi của CMCN 4.0.

 TS. Nguyễn Văn Thuật, ThS. Nhữ Lê Thu Hương, ThS. Nguyễn Thị Hồng

     Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia

     Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội, số 154 - tháng 10/2018


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. TS. Nguyễn Văn Thuật và cộng sự, Định vị xu hướng phát triển của lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Việt Nam đến năm 2030, Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội, số tháng 9/2017. 

2. TS. Nguyễn Văn Thuật và cộng sự, Nhìn lại nguồn cung lao động của Việt Nam giai đoạn 2002-2012, Hội thảo quốc tế “Thị trường lao động Việt Nam: Những phát hiện từ tiếp cận vi mô”, Hà Nội, tháng 4/2014.

3. Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê (các năm 2016, 2017).

4. Tổng cục Thống kê, Báo cáo điều tra lao động việc làm (các năm 2012, 2014, 2016).

5. Tổng cục Thống kê, Báo cáo điều tra lao động việc làm, quý IV/2017.

6. Tổ chức Lao động Quốc tế, CMCN 4.0 tại Việt Nam: Hàm ý đối với thị trường lao động, tháng 5/2018.

 

 



[1] Lao động giản đơn hay lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong nghiên cứu này được hiểu là lao động chưa qua đào tạo từ 3 tháng trở lên ở một trường hay một cơ sở đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và không có văn bằng/chứng chỉ chứng nhận đã đạt một trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định.

[2] ILO, CMCN 4.0 tại Việt Nam: Hàm ý đối với thị trường lao động, tháng 5/2018.

[3] Theo nghiên cứu của chúng tôi, tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta từ nay đến năm 2030 cho thấy, robot chưa thể đảm nhận thay con người một số công việc mang tính chất phục vụ nhu cầu thiết yếu nhất định và nếu có thì cũng không đơn giản để con người thích ứng trong một sớm một chiều bởi các giá trị, chuẩn mực văn hóa của người Việt nói chung, cũng như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn nước ta nói riêng.

[4] Theo Tổng cục Thống kê, lao động đã qua đào tạo là lao động đã được đào tạo ở một trường hay một cơ sở đào tạo chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ 3 tháng trở lên, đã tốt nghiệp, được cấp bằng/chứng chỉ chứng nhận đã đạt một trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định, bao gồm: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng chuyên nghiệp, đại học và trên đại học (thạc sỹ, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học).

[5] Xem thêm “Học nghề gì cho tương lai khi robot dần thay thế sức người?” (http://m.giadinhvatreem.vn/xem-tin_hoc-nghe-gi-cho-tuong-lai-khi-robot-dan-thay-the-suc-nguoi-_570_17074.html) 

[6] Các nền kinh tế APEC thông qua khuôn khổ hợp tác mới để giải quyết các vấn đề tương lai của việc làm (https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_554071/lang--vi/index.htm)

[7] Xem thêm “Dệt may chủ động cắt giảm lao động” (https://forbesvietnam.com.vn/kinh-doanh/det-may-chu-dong-cat-giam-lao-dong-4087.html)

Tin khác

Bình luận

   

 

 

 

 

X
Nhấn vào để bình chọn