GMT+7

Cơ chế tài chính để doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững

(TDB) - Sự phát triển bền vững doanh nghiệp (DN) Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong thời gian qua, để hỗ trợ các DN duy trì sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tài chính nhằm giúp DN tiếp cận với các nguồn tài chính một cách thuận lợi và dễ dàng hơn. Tuy nhiên, để DN ngày càng phát triển bền vững, các cơ chế tài chính cần được đổi mới một cách tích cực hơn nữa.

1. Mở đầu

Phát triển bền vững DN là điều kiện quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, DN phát triển bền vững có tác động không chỉ tới việc thực thi các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội mà còn tới quá trình phân phối lần đầu và tham gia vào quá trình phân phối lại một cách tích cực và hiệu quả. Sự tham gia của DN Việt Nam vào những vấn đề trọng đại của quốc gia được thể hiện ở vai trò chủ đạo của hệ thống DN nhà nước, vai trò động lực của DN tư nhân và vai trò lan toả của các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nhằm hỗ trợ các DN thực hiện vai trò của mình, Nhà nước cần có những cơ chế để hỗ trợ hệ thống các DN phát triển, trong đó, cơ chế tài chính được coi là một điều kiện quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các DN này.

Bài viết tập trung phân tích thực trạng cơ chế tài chính hỗ trợ DN Việt Nam phát triển bền vững trong điều kiện mới, từ đó rút ra những hàm ý chính sách cho Chính phủ. Phạm vi nghiên cứu của bài viết là hệ thống các DN Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay. 

2. Các cơ chế tài chính hiện hành hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ hiện nay, các DN Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là việc tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Để hỗ trợ cho các DN Việt Nam duy trì sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều cơ chế, chính sách tài chính nhằm giúp DN tiếp cận với các nguồn tài chính thuận lợi và dễ dàng hơn. Các kênh hỗ trợ tài chính cho DN chủ yếu gồm: 

Một là, hỗ trợ DN tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác

Để tạo thuận lợi cho các DN tiếp cận nguồn vốn vay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục ban hành và sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền các văn bản nhằm đơn giản hóa thủ tục cho vay như: bỏ giấy đề nghị vay vốn của khách hàng tại hồ sơ đề nghị vay vốn, đơn giản hóa yêu cầu về phương án sử dụng vốn vay trong hoạt động cho vay phục vụ đời sống,…; đồng thời, quy định cụ thể về trách nhiệm của tổ chức tín dụng (TCTD) khi thực hiện cho vay để đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động cho vay, bảo vệ quyền lợi của người vay. Các Chương trình kết nối ngân hàng - DN nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN được tổ chức, các cuộc đối thoại trực tiếp, định kỳ và các hợp đồng cam kết cho vay vốn cụ thể giữa ngân hàng với DN trên địa bàn được thực hiện… Bên cạnh đó, các TCTD cũng đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, cải tiến các quy trình cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng đảm bảo thuận tiện, nhanh gọn. 

Theo báo cáo của NHNN, thời gian, số lần giao dịch, giấy tờ cung cấp của khách hàng đã giảm 20-40%; một số quy trình/sản phẩm dịch vụ đã giảm 42% số lượng bản gốc mẫu biểu, giảm 45% số lượng chữ ký khách hàng và 48% số lượng chữ ký cán bộ ngân hàng trên hồ sơ. Một số TCTD đã chủ động xây dựng các chương trình tín dụng ưu đãi lãi suất để hỗ trợ DN như: Chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ “Nông nghiệp sạch” của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam dành cho khách hàng là DN, hợp tác xã, liên hợp tác xã, chủ trang trại sản xuất nông nghiệp sạch quy mô lớn với số vốn 50.000 tỷ đồng, lãi suất cho vay thấp hơn từ 0,5-1,5%/năm so với lãi suất cho vay ưu tiên đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng TPBank ban hành chương trình 5.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi đối với DN xuất nhập khẩu, gói tín dụng 3.000 tỷ đồng ưu đãi cho DN phụ trợ, DN khởi nghiệp và các chương trình ưu đãi lãi suất cho các DN nhỏ và vừa (DNNVV) đầu tư xây dựng nhà xưởng, máy móc trang thiết bị (với lãi suất cho vay 6,5-6,9%/năm)...

Hai là, hỗ trợ DN tiếp cận tín dụng thông qua hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng

Ngày 20/12/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng (BLTD) cho DNNVV. Quỹ BLTD ra đời đã giúp cho các DN khơi thông nguồn vốn tín dụng, là cầu nối giữa ngân hàng với các DNNVV không có tài sản thế chấp nhưng có phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả và khả thi. Sau hơn 15 năm thành lập, đến nay, cả nước có 27 Quỹ BLTD với số vốn điều lệ khoảng 1.462 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước (NSNN) là 1.318 tỷ đồng, vốn góp của các tổ chức, cá nhân theo quy định là 143,6 tỷ đồng. Lũy kế doanh số bảo lãnh của các quỹ BLTD từ năm 2002 đến nay ước khoảng 4.161 tỷ đồng, trong đó, tổng số tiền các quỹ BLTD đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho DNNVV khoảng 361 tỷ đồng, chiếm khoảng 9% tổng doanh số bảo lãnh. Tuy nhiên, do hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNVV không cao, thiếu bền vững nên còn khá nhiều DN chưa đáp úng được các điều kiện để được bảo lãnh theo quy định. Nhìn chung, quỹ BLTD chỉ mới đáp ứng một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu về vốn của các DNNVV.

Ba là, đối với các DNNVV, Chính phủ hỗ trợ tiếp cận tín dụng thông qua Quỹ Phát triển DNNVV

Ngày 17/4/2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 601/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ phát triển DNNVV. Quỹ tập trung hỗ trợ cho các DNNVV có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước, phù hợp với mục đích của Quỹ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DN, góp phần tăng thu nhập, việc làm cho người lao động. Đánh giá chung cho thấy tiến độ triển khai đưa vào hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV còn chậm, chưa đáp ứng được mong mỏi của các DNNVV. Kể từ khi ra đời đến nay, Quỹ vẫn chưa thực hiện được khoản giải ngân cho DNNVV. Nguyên nhân là do sự chậm trễ trong bố trí vốn điều lệ cho hoạt động của Quỹ, đồng thời, việc chậm ban hành các cơ chế quản lý tài chính của Quỹ cũng ảnh hưởng đến tiến độ hoạt động của Quỹ.

Bốn là, Chính phủ hỗ trợ các DN thông qua chính sách tài chính hỗ trợ đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ và trình độ kỹ thuật

Nhằm hỗ trợ DN thương mại hoá sản phẩm, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy trình đánh giá sự phù hợp, hợp chuẩn đang được Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) tích cực triển khai, Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) đã được hoàn thiện chờ thông qua. Nghị định về DN KHCN đã được sửa đổi theo hướng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc đăng ký, chứng nhận và hoạt động của DN KHCN. Bộ KHCN và Bộ Tài chính thường xuyên rà soát nhằm đơn giản hóa, thuận lợi hóa quy trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp; ứng dụng công nghệ thông tin và tuyển dụng, đào tạo thẩm định viên nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả xử lý đơn sở hữu công nghiệp. Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia đang tích cực hoàn tất thủ tục hỗ trợ khoảng 100 dự án tăng cường năng lực, đổi mới công nghệ cho các DN. Bộ KHCN cũng đã ban hành Thông tư số 14/2016/TT-BKHCN quy định về quản lý các hoạt động cho vay từ vốn của Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia. Đây là cơ sở quan trọng để các DN, tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn thực hiện các nhiệm vụ KHCN từ nguồn vốn của Quỹ.

Năm là, cơ chế hỗ trợ tài chính thông qua chính sách của Chính phủ hỗ trợ xúc tiến, mở rộng thị trường cho các DN

Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia thực hiện theo Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg ngày 15/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một trong những chính sách quan trọng hỗ trợ các tổ chức hiệp hội ngành hàng, các cơ quan xúc tiến thương mại, và các địa phương thực hiện các hoạt động hỗ trợ DN củng cố, mở rộng thị trường xuất khẩu, thị trường trong nước và miền núi, biên giới, hải đảo, đào tạo nâng cao năng lực cho DN. Số lượt DN tham gia Chương trình tăng dần qua các năm, trong đó chiếm 90% là DNNVV.

Sáu là, hỗ trợ DN thông qua chính sách hỗ trợ mua sắm công, dịch vụ công

Kế thừa quy định về mua sắm công tại Nghị định 56, dựa trên thông lệ quốc tế và quy định hiện hành về ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu là DNNVV trong mua sắm công tại Luật Đấu thầu, các quy định này cũng góp phần thúc đẩy hình thành liên kết kinh doanh và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Đồng thời, Luật Đấu thầu còn tạo điều kiện cho các DN nhỏ, siêu nhỏ tham gia các gói thầu xây lắp có giá trị không quá 05 tỷ đồng có sử dụng NSNN tham gia đấu thầu. Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ các DNNVV có sản phẩm đổi mới sáng tạo, dự thảo Luật quy định các sản phẩm đổi mới sáng tạo của DNNVV thuộc danh mục sản phẩm đổi mới sáng tạo được hưởng ưu đãi của Chính phủ. 

3. Những vấn đề đặt ra đối với cơ chế tài chính hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững

Có thể chỉ ra những khó khăn chủ yếu dẫn đến hạn chế trong tiếp cận vốn tín dụng của DN Việt Nam như:

Thứ nhất, thủ tục vay vốn phức tạp và thiếu tài sản đảm bảo là hai rào cản cơ bản khiến cho các DNNVV không vay được vốn. Quá trình xin vay vốn đòi hỏi nhiều văn bản giấy tờ; thủ tục công chứng gây mất thời gian và chi phí; các yêu cầu xây dựng phương án/dự án sản xuất, kinh doanh và chứng minh hiệu quả của phương án/dự án vượt quá khả năng của nhiều DNNVV. Tài sản đảm bảo chủ yếu yêu cầu phải là bất động sản, trong khi đó, giá trị bất động sản của các DNNVV thường rất nhỏ, không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Một số DN được giao đất sử dụng, nhưng chưa được cấp giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đất, do vậy, cũng không có tài sản đảm bảo để vay vốn ngân hàng. Một số DN đã sử dụng toàn bộ tài sản đảm bảo cho các khoản vay cũ nên không có tài sản đảm bảo để vay các khoản vay mới.

Thứ hai, các sản phẩm tín dụng dành cho DNNVV chưa phong phú, một số DN không tìm được các sản phẩm tín dụng phù hợp, do đó cũng không tiếp cận được vốn vay ngân hàng. Về cơ bản, các sản phẩm tín dụng dành cho khối DNNVV vẫn phải được xây dựng trên nền tảng Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN (Quy chế 1627) áp dụng chung đối với DNNVV cũng như DN có quy mô lớn, từ đó, có những bất lợi nhất định đối với DNNVV. Các hình thức đảm bảo khoản vay bằng hàng hóa hay các tài sản khác bất động sản chỉ mới được áp dụng với các khoản vay ngắn hạn, trong khi đó, hầu hết các khoản vay dài hạn đều yêu cầu tài sản thế chấp là bất động sản.
Với hơn 40% DNNVV hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, các dự án kinh doanh thường chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn, đòi hỏi khả năng huy động vốn nhanh. Trong khi đó, các TCTD hiện nay hầu như không phục vụ các khoản vay có thời hạn dưới 1 tháng, thủ tục vay vốn ngân hàng thường kéo dài, thời gian giải ngân lâu, do vậy không phù hợp với nhu cầu vốn của DN. Một số DN hoạt động trong các lĩnh vực mới, lĩnh vực đặc thù cũng khó tiếp cận được các khoản vay từ các TCTD do thông tin từ các lĩnh vực đó quá ít, các TCTD không có đầy đủ thông tin cũng như không đánh giá được tính hiệu quả của phương án/dự án sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, các DN tư nhân có ít ưu thế hơn so với các DN nhà nước, và các DN nhỏ có ít ưu thế hơn so với các DN lớn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng. Thực tế cho thấy có sự phân biệt đối xử khi các DN lớn thường được các TCTD ưu tiên vay vốn hơn các DNNVV do DN lớn có ưu thế về tài sản, có mối quan hệ tốt hơn với các TCTD. Các DN nhà nước cũng có lợi thế khi tiếp cận tín dụng từ các TCTD so với các DN tư nhân bên cạnh lý do tài sản đảm bảo lớn còn có tâm lý các TCTD coi cho vay các DN nhà nước là an toàn hơn.

Thứ tư, đối với các DN đã vay được vốn, khó khăn lớn nhất là duy trì được việc tiếp cận các khoản vay một cách ổn định. Trong quá trình vay vốn, TCTD cũng có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng tín dụng khi hoạt động kinh doanh của DN sa sút, có nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn vốn. Tuy nhiên, đây cũng lại là thời điểm mà DN cần vốn nhất, do đó, hành động chấm dứt hợp đồng tín dụng của TCTD đã đẩy DN rơi vào hoàn cảnh khó khăn hơn, thậm chí có thể thua lỗ, phá sản, và dẫn tới không trả được nợ, trong khi nếu như có sự trợ giúp hợp lý thì DN đã có thể vượt qua khó khăn, quay trở lại hoạt động bình thường. Điều này thể hiện niềm tin giữa các TCTD và DN còn yếu, mức độ cộng tác và hỗ trợ nhìn chung còn chưa cao.

Thứ năm, các DN Việt Nam hiện đang trong tình trạng mất cân đối giữa các kênh huy động vốn.

DN Việt Nam có 3 kênh huy động vốn chủ yếu bao gồm: (i) vốn tín dụng từ ngân hàng; (ii) huy động trên thị trường chứng khoán; (iii) từ cổ phiếu và trái phiếu. Lượng vốn mà DN Việt Nam trực tiếp huy động từ thị trường chứng khoán chiếm xấp xỉ 30% nguồn vốn tín dụng. Trong khi đó, nguồn vốn do ngân hàng tài trợ thường có kỳ hạn ngắn, với yêu cầu thế chấp bằng tài sản và chi phí, lãi suất vay biến động ở mức cao so với quốc tế. Thực tế này ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng và triển khai những kế hoạch kinh doanh, kìm hãm chiến lược phát triển dài hạn của DN. Bên cạnh đó, thị trường thứ cấp cho trái phiếu DN chưa được phát triển, rất ít trái phiếu DN được niêm yết và giao dịch. Vì vậy, các sản phẩm tài chính mà DN có thể tiếp cận được rất đơn điệu và trái phiếu DN hiện nay không khác nhiều so với tính chất của một khoản vay dài hạn từ ngân hàng thương mại.

4. Một số hàm ý chính sách

Sự phát triển bền vững DN Việt Nam có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Hiện nay, nước ta đang thực hiện những chính sách của một Nhà nước kiến tạo phát triển, do đó, việc kiến tạo phát triển hệ thống DN là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách của Nhà nước. Theo đó, cơ chế tài chính cho DN cần được đổi mới theo hướng:

Một là, Nhà nước ban hành một số chính sách về tiếp cận vốn vay cho DNNVV không đáp ứng được điều kiện về tài sản đảm bảo nhưng có những phương thức kinh doanh hợp lý và hứa hẹn tăng trưởng trong tương lai

Đối với các DN khởi nghiệp sáng tạo, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng rất khó khăn do thiếu những tài sản đảm bảo đáp ứng điều kiện vay vốn. Trong bối cảnh sự phát triển của các DN khởi nghiệp sáng tạo đang dần trở thành một làn sóng mạnh mẽ ở nước ta, Nhà nước nên ban hành một số chính sách nhằm tạo điều kiện cho các DN khởi nghiệp sáng tạo có thể tiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng. Các DN này có thể sử dụng ý tưởng sáng tạo của mình để thế chấp cho ngân hàng với những điều khoản cụ thể mà phía ngân hàng và DN cùng nhau thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu hoạt động này chưa được hệ thống luật pháp hiện hành điều chỉnh thì hai bên chưa có cơ sở để thực hiện. Theo đó, cả ngân hàng và DN đều cần những hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà nước.

Hai là, thúc đẩy quá trình đa dạng hóa sản phẩm tín dụng của các ngân hàng thương mại, ban hành chính sách khuyến khích các ngân hàng xây dựng các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu vay vốn của DNNVV

Việc tiếp cận được vốn vay từ ngân hàng có thể coi là điều kiện tiên quyết để các DNNVV tồn tại và phát triển. Với việc Luật Hỗ trợ DNNVV được ban hành, các ngân hàng có thể tính toán để xây dựng những sản phẩm tín dụng phù hợp với điều kiện của DNNVV. Điều này đem lại lợi ích cho cả hai phía: (i) Ngân hàng có thể tiếp cận và mở rộng thị trường vốn vay của mình tới các DNNVV; (ii) Các DNNVV có thể tiếp cận được nguồn vốn từ các ngân hàng để phát triển DN của mình. Đây có thể được coi là giải pháp mà đôi bên cùng được lợi.

Ba là, Nhà nước đảm bảo khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng một cách bình đẳng giữa các loại hình DN

Trong thực tế, hiện nay, việc các DN lớn được tiếp cận các khoản tín dụng từ ngân hàng thương mại đang hạn chế khả năng này của các DNNVV. Các điều kiện về tài sản bảo đảm, thủ tục vay vốn, chứng minh năng lực trả nợ của các ngân hàng hiện đang trở thành các rào cản đối với các DNNVV trong tiếp cận tín dụng. Những quy định vốn được thiết lập để các ngân hàng thương mại không phân biệt đối xử đối với các DN bất kể độ lớn của chúng đã và đang được sử dụng để hạn chế không gian tín dụng của các DNNVV. Chính vì vậy, Nhà nước cần thực hiện những thay đổi trong hệ thống pháp lý về hỗ trợ tín dụng đối với các DNNVV để các DN này được ứng xử một cách bình đẳng trong mối tương quan với các DN lớn hơn khác.

Bốn là, Nhà nước cần tập trung thực hiện chính sách thuế hợp lý để DN Việt Nam có thể phát triển, đặc biệt đối với các DNNVV và DN khởi nghiệp sáng tạo

Các DNNVV và DN khởi nghiệp sáng tạo là những DN dễ bị tổn thương bởi các cú sốc tài chính trong nền kinh tế. Sức mạnh tài chính của các DN này không mạnh mẽ như các DN lớn nên khả năng chịu đựng các cú sốc kinh tế yếu. Những ưu đãi về thuế, đặc biệt đối với DN khởi nghiệp sáng tạo, sẽ là những động lực phát triển cho hệ thống DN này. Trong điều kiện hiện nay, các DNNVV và DN khởi nghiệp sáng tạo cần được hỗ trợ về mặt tài chính như: tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng thương mại, tiếp cận các hoạt động mua sắm công của Chính phủ, tham gia vào cung ứng các dịch vụ cho Chính phủ.

Năm là, hoạt động sáng tạo trong các DN Việt Nam cần được chú trọng và định hướng thông qua các chính sách của Nhà nước

Trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra, các hoạt động sáng tạo của các DN Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế để tiến hành nhưng cần được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Theo đó, Nhà nước cần thay đổi một cách toàn diện cách nhìn và cách vận hành chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo cho DN. Trước tiên, Nhà nước cần hiểu mình là một chủ thể của hoạt động sáng tạo trong nền kinh tế, là người dẫn dắt hoạt động sáng tạo trong các DN. Việc hình thành các Quỹ hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo của Nhà nước là cần thiết nhưng chưa đủ vì các Quỹ này cần hướng đến các hoạt động đổi mới sáng tạo thực sự. Các dự án được hỗ trợ của các Quỹ này cần đưa tiêu chí đổi mới sáng tạo lên làm tiêu chí quyết định thay vì những tiêu chí liên quan đến hiệu quả kinh tế vì đôi khi hoạt động đổi mới sáng tạo sẽ có những rủi ro nhất định. Để làm được công việc đó, Nhà nước cần có những chính sách cụ thể và có thể thực thi được về mặt tài chính nhằm hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo của DN Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển DN, 2016, Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới DN nhà nước năm 2016 và thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020, 
http://doimoidoanhnghiep.chinhphu.vn. 
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2015, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015-2035.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2017, Báo cáo đánh giá thực trạng DNNVV Việt Nam.
4. Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Công Thương, 2017, Tài liệu Hội thảo quốc tế: Chính sách công nghiệp quốc gia của Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2035.
5. Ban Kinh tế Trung ương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Ủy ban Kinh tế Quốc hội, 2017, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam và vai trò của Nhà nước kiến tạo trong hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh.
6. Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu DN nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”.
7. Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 9/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035.
8. VCCI, 2017, Báo cáo đánh giá một năm thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ, giải quyết khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh của DN.

 

TS. Đỗ Tất Cường, NCS. Ngô Thị Ngọc Anh

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội, số tháng 1+2/2018



Tin khác

Bình luận

   

 

 

 

 

X
Nhấn vào để bình chọn