GMT+7

Định vị xu hướng phát triển của lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Việt Nam đến năm 2030

(TDB) - DNNNN DNNN là hai loại hình DN phân theo hình thức sở hữu ở nước ta đang diễn ra theo hướng đối lập nhau xét ở 3 tiêu chí định lượng: số lượng DN, tỷ trọng đóng góp vào GDP và số lao động làm việc. Cụ thể là DNNN đang trong xu hướng giảm về cả 3 tiêu chí nêu trên, trong khi DNNNN ngày càng gia tăng. Nghiên cứu cho thấy, có mối quan hệ cùng chiều giữa xu hướng phát triển của DNNNN với xu hướng phát triển nguồn lao động trong loại hình DN này trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển như trường hợp của nước ta(1). Hiện nay, DNNNN đang là lực lượng chính, chiếm hơn 97% tổng số DN và sử dụng gần 62% tổng số lao động đang làm việc trong các loại hình DN của cả nước. Mục tiêu của nghiên cứu này là làm rõ thực trạng phát triển của lao động trong DNNNN giai đoạn 2010-2016, trên cơ sở đó định vị xu hướng phát triển của lao động trong loại hình DN này đến năm 2030.

1. VÀI NÉT VỀ THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC

Có thể nói, cùng với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, DNNNN cũng ngày càng có được bước phát triển vượt bậc và giữ vị thế, vai trò động lực ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nước nhà. Điều này không chỉ thể hiện là DNNNN ngày càng tăng về số lượng, có đóng góp ngày càng to lớn vào tăng trưởng kinh tế, mà còn ngày càng sử dụng nhiều lao động. Nếu như năm 2007, DNNNN chỉ có khoảng hơn 140 nghìn DN, thì đến năm 2015 đã có hơn 427 nghìn DN, tăng 3 lần và chiếm 96,6% tổng số DN cả nước(2). Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, DNNNN đã phát triển khá nhanh ở tất cả các vùng và các địa phương trong cả nước, nhiều chỉ tiêu kinh tế cơ bản của loại hình DN này chiếm tỷ trọng cao hơn DNNN như: số lao động, nguồn vốn, tài sản cố định, doanh thu(3),...

Những điều nêu trên cho thấy, DNNNN đang là lực lượng chính, ngày càng nâng dần vai trò động lực quan trọng hơn đối với toàn bộ nền kinh tế và được cho là sẽ có vai trò quyết định trong các loại hình DN ở nước ta. Vì vậy, việc phát triển loại hình DN này đang là vấn đề cấp thiết không chỉ để nâng cao sức mạnh nội tại của nền kinh tế nước ta nói chung, sức mạnh của DNNNN nói riêng, mà còn để đáp ứng nhu cầu của phát triển kinh tế thị trường, trọng tâm là nhu cầu phát triển khách quan của kinh tế tư nhân, cũng như tạo nhiều việc làm hơn cho NLĐ có cơ hội lựa chọn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp, lao động tự tạo việc làm sang phát triển lao động làm công ăn lương.

Bảng 1: Số DN hoạt động hàng năm phân theo loại hình sở hữu

Loại hình DN

2010

2012

2014

2015

DNNNN

268.831

334.562

388.232

427.709

DN có vốn ĐTNN

7.248

8.976

11.046

11.942

DNNN

3.281

3.239

3.048

2.835

Tổng

279.360

346.777

402.326

442.486

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nêu trên của DNNNN, những vấn đề cố hữu của DN nước ta nói chung, trong đó chủ yếu là DNNNN nói riêng vẫn còn chưa được giải quyết như: NSLĐ thấp, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, công nghệ còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu vắng lực lượng DN có quy mô đủ lớn để hội nhập và tạo sức phát triển lan tỏa mạnh trong nền kinh tế nói chung, đến các địa phương nói riêng.

Đứng trước những tồn tại, hạn chế nêu trên, mới đây, Luật Hỗ trợ DNNVV đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, cùng với Nghị quyết số 10-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 3/6/2017, trong đó có nêu rõ “Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu DN; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu DN và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu DN được cho là “nhân tố kép” góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của nước ta đang tạo ra cơ hội lớn cho DNNNN phát triển.

Từ những điều nêu trên, có thể nói, sự phát triển của DNNNN đang đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen nhau, trong đó cơ hội nhiều hơn thách thức và giữa chúng có thể chuyển hóa cho nhau từ chính nội lực của mỗi DN,…

2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC

2.1. Lao động và cơ cấu lao động

Số liệu thống kê hàng năm cho thấy, số lao động có việc làm trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước của nước ta năm 2016 là gần 46 triệu người(4), trong đó lao động làm việc trong DNNNN ước tính khoảng hơn 8,4 triệu lao động, chiếm trên 18% tổng số lao động có việc làm trong thành phần kinh tế này. Như vậy, xét theo đầu người, cứ có 10 lao động có việc làm trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước năm 2016 thì có khoảng 1,8 lao động làm việc trong DNNNN. So với các năm trước thì năm 2016 là năm có số lao động trong DNNNN nhiều nhất trong tổng số 10 lao động như đã đề cập ở trên.

Xét ở góc độ lao động làm công ăn lương, loại hình lao động này ở nước ta đang trong xu hướng gia tăng năm sau cao hơn so với năm trước và tăng nhanh hơn kể từ năm 2014, bình quân mỗi năm tăng 765 nghìn người trong giai đoạn 2010-2016, chủ yếu là do DNNNN sử dụng (Xem Biểu 1). Cụ thể, số lao động làm công ăn lương của nước ta năm 2010 là 16,6 triệu người đã tăng lên 21,9 triệu người năm 2016, trong khi lao động trong DNNNN năm 2010 là gần 6 triệu lao động đã tăng lên hơn 8,4 triệu lao động năm 2016, chiếm  38,3% tổng số lao động làm công ăn lương của cả nước và tăng bình quân mỗi năm khoảng 350 nghìn người trong cùng giai đoạn. Theo tính toán, cứ có 10 lao động làm công ăn lương ở năm 2016 thì có gần 4 lao động làm việc trong DNNNN(5).

Biểu 1: Lao động làm công ăn lương của cả nước và lao động trong DNNNN

Đơn vị tính: Nghìn người

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

So sánh với 2 loại hình DN khác như Bảng 2 dưới đây thì lao động trong DNNNN có sự gia tăng về số lượng, năm sau cao hơn năm trước và loại hình DN này luôn luôn giữ vai trò đầu tàu về tạo việc làm và sử dụng nhiều lao động trong cộng đồng DN ở nước ta. Điểm khác biệt đáng chú ý về lao động trong các loại hình DN ở nước ta là lao động trong DNNN đang trong xu hướng giảm, trong khi lao động trong 2 loại hình DN còn lại đang trong xu hướng tăng. Lao động trong DNNN giảm có nguyên nhân chủ yếu từ Chính phủ đang đẩy mạnh tái cơ cấu, trọng tâm là CPH DNNN để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn phát triển về chất của DNNN, còn lao động trong DNNNN và DN có vốn ĐTNN tăng không chỉ do sự phát triển của 2 loại hình DN này về cả số lượng lẫn chất lượng, mà đây còn là tính tất yếu của phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện phát triển của nước ta.

Bảng 2: Lao động trong các loại hình DN

Đơn vị tính: Nghìn người


2010

2011

2012

2013

2014

2015

Ước 2016

DNNNN

5.983

6.680,6

6.758,5

6.854,8

7.148,4

7.712,6

8.406

DNNN

1.691,8

1.664,4

1.606,4

1.660,2

1.537,6

1.371,6

1.252

DN có vốn ĐTNN

2.156,1

2.550,6

2.720

3.050,9

3.449

3.772,7

3.996

Tổng

9.830,9

10.895,6

11.084,9

11.565,9

12.135,0

12.856,9

13.654

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Cũng từ Bảng 2 trên cho thấy, lao động trong cộng đồng DN ở nước ta ngày một đông hơn, trong đó, lao động trong DNNNN năm 2016 chiếm gần 62% tổng số lao động trong cộng đồng DN cùng năm. Tính bình quân trong giai đoạn 2010-2016, lao động trong DN ở nước ta tăng khoảng 546 nghìn lao động/năm.

Bảng 3: Lao động trong DNNNN phân theo loại hình DN

Đơn vị tính: Nghìn người


2010

2011

2012

2013

2014

2015

DN tư nhân

631,0

556,3

543,0

503,1

483,1

470,2

Công ty hợp danh

1,0

1,6

2,5

3,9

3,8

4,5

Công ty TNHH

3.086,9

3.366,5

3.439,2

3.533,5

3.764,6

4.103,8

Công ty cổ phần(6)

2.264,1

2.756,2

2.773,8

2.814,3

2.896,9

3.134,1

Tổng

5.983,0

6.680,6

6.758,5

6.854,8

7.148,4

7.712,6

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Về lao động trong nội bộ DNNNN (Bảng 3) cho thấy, lao động trong công ty TNHH có số lượng lao động đông nhất (4.104 nghìn lao động năm 2015), giữ vị trí thứ hai là công ty cổ phần (3.134 nghìn lao động). Điểm đáng quan ngại về lao động trong DNNNN là lao động trong DN tư nhân có xu hướng giảm mạnh, từ 631 nghìn lao động năm 2010 đã giảm xuống còn 470 nghìn lao động trong năm 2015.

Như vậy, xét về cơ cấu lao động trong DNNNN năm 2015 chia theo loại hình DN thì lao động trong công ty TNHH chiếm tỷ trọng cao nhất, hơn 53% và lao động trong công ty cổ phần đứng ở vị trí thứ hai, chiếm gần 41% tổng số lao động trong DNNNN. Điều này cho thấy 2 loại hình DN này không chỉ đang phát triển phổ biến ở nước ta, mà quan trọng hơn là đang thu hút thêm nhiều lao động.

Còn về cơ cấu lao động theo giới tính trong DNNNN giai đoạn 2010-2016 (Biểu 2) thì đang có sự chuyển biến tích cực bởi lao động nữ đang có sự gia tăng trong cơ cấu lao động, cụ thể là từ 36,8% năm 2010 đã tăng lên 37,9% năm 2016 (tăng 1,1 điểm %).

Biểu 2: Cơ cấu lao động trong DNNNN phân theo giới tính


Nguồn: Tổng cục Thống kê.

2.2. Chất lượng lao động và năng suất lao động

Chất lượng lao động là một trong những nhân tố cơ bản phản ánh và tác động đến NSLĐ. Điều này có nghĩa là chất lượng lao động cao sẽ góp phần quan trọng dẫn đến NSLĐ cao và ngược lại, đây cũng là tính khách quan trong quan hệ cùng chiều giữa chất lượng lao động với NSLĐ. Chất lượng lao động được thể hiện thông qua hai tiêu chí cơ bản là thể lực và trí lực của NLĐ (sức khỏe và trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp); còn NSLĐ phản ánh cách thức và hiệu quả sử dụng lao động,... Nói một cách bao quát, NSLĐ phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của NLĐ trong sản xuất.

Số liệu thống kê cho thấy, nước ta vẫn đang trong thời kỳ dân số “vàng”, nhưng thực tiễn lại cho thấy chỉ “vàng” về số lượng, chứ chưa “vàng” về chất lượng bởi hiện có hơn 43 triệu người trong lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (chiếm 79,1%), trong khi chỉ có 11,3 triệu người đã được đào tạo (chiếm 20,9%)(7). Những con số này phản ảnh chung là lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động trong nền kinh tế lại thấp và do đó dẫn đến NSLĐ thấp và lao động giá rẻ là lẽ đương nhiên.

Xét về chất lượng lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng cho thấy, lao động làm việc hàng năm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang trong xu hướng giảm nhưng vẫn còn rất chậm và chiếm tỷ lệ cũng rất cao (Bảng 4), trong khi lao động đã qua dạy nghề, có trình độ trung cấp chuyên nghiệp lại có dấu hiệu giảm hoặc chững lại và lao động có trình độ đại học trở lên lại có xu hướng tăng nhanh, từ 6,9% năm 2013 đã lên 9% năm 2016. Điều này phản ánh sự bất hợp lý về cơ cấu chất lượng lao động và do đó vẫn tạo nên tình trạng thừa thầy, thiếu thợ trong nền kinh tế của nước ta. Minh chứng cho điều này là tình trạng cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp vẫn còn đang là vấn đề xã hội “nóng” ở nước ta và mới đây Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã xây dựng đề án đưa lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn năm 2018-2020 và định hướng đến năm 2025 (Đề án này đã hoàn tất việc lấy ý kiến dự thảo(8)).

Bảng 4: Cơ cấu chất lượng lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn

Đơn vị tính: %

2013

2014

2015

2016

Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật

82,1

81,8

80,1

79,4

Dạy nghề

5,3

4,9

5

5

Trung cấp chuyên nghiệp

3,7

3,7

3,9

3,9

Cao đẳng

2

2,1

2,5

2,7

Đại học trở lên

6,9

7,6

8,5

9

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Về chất lượng lao động trong DNNNN, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tay nghề và kỹ năng của lao động trong loại hình DN này vẫn còn thấp, không ít DN đã phải tự đào tạo lao động hoặc đào tạo lại lao động theo hình thức vừa học vừa làm và điều này đang là một trong những nút thắt cơ bản trong quá trình phát triển của DNNNN. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và đào tạo của nước ta cũng còn nhiều bất cập, chất lượng đào tạo thấp hoặc đào tạo không phù hợp với nhu cầu thực tiễn của DNNNN. Nghiên cứu của WB năm 2012 cho thấy, tỷ lệ các DN phàn nàn về những kỹ năng công nhân được đào tạo tại trường không phù hợp với những kỹ năng mà DN cần còn rất lớn, trong đó gần 65% chủ DN có vốn ĐTNN cho rằng những kỹ năng mà trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của DN. Tỷ lệ này ở các DN trong nước là DNNN và DNNNN thấp hơn, khoảng 35%. Thực tế này cho thấy, để nâng cao NSLĐ cần phải giảm sự khác biệt giữa kỹ năng được đào tạo và kỹ năng mà DN cần. Điều này đòi hỏi cơ chế kết nối DN với cơ sở đào tạo, đồng thời phải tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo, những cơ sở đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của thị trường sẽ khó được chấp nhận(9).

Số liệu thống kê NSLĐ trong DNNNN cũng là cơ sở quan trọng phản ánh chất lượng lao động trong loại hình DN này bởi nó sẽ phản ánh được trình độ lành nghề của lao động, qua đó cho thấy việc sắp xếp bố trí, tổ chức quản lý và sử dụng lao động trong loại hình DN này có hợp lý không,... So với các loại hình DN khác, NSLĐ bình quân hàng năm/lao động trong DNNNN đứng ở vị trí thấp nhất trong giai đoạn 2011-2014 (Biểu 3) và có dấu hiệu dẫn đến khoảng cách về NSLĐ của loại hình DN này so với 2 loại hình DN còn lại đang ngày càng bị nới rộng. Đây là yếu tố rất đáng lo ngại vì nó cản trở khả năng cạnh tranh của DNNNN nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung bởi loại hình DNNNN là lực lượng kinh tế có số lượng DN đông nhất. Nghiên cứu cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến NSLĐ của DNNNN còn thấp hơn so với 2 loại hình DN kia không chỉ là do chất lượng lao động trong loại hình DN này còn thấp, mà còn do cả môi trường kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường ít nhiều còn có sự bất bình đẳng giữa các loại hình DN, trong đó DNNNN là loại hình DN bị ảnh hưởng nhiều nhất,...

Biểu 3: NSLĐ bình quân trong các loại hình DN theo giá hiện hành

Đơn vị tính: Triệu đồng


Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Xét ở góc độ tiền lương tác động đến chất lượng và NSLĐ trong DNNNN cũng cho thấy, tiền lương và thu nhập bình quân hàng tháng của lao động trong loại hình DN này cũng thấp nhất so với 2 loại hình DN kia, đặc biệt là thấp hơn rất nhiều so với DNNN (Thu nhập bình quân một tháng của lao động trong DNNNN chỉ bằng khoảng 57% thu nhập tương ứng của lao động trong DNNN ở năm 2014). Điều này cho thấy lương của lao động trong DNNNN chưa thực sự là động lực thúc đẩy NLĐ làm việc nâng cao NSLĐ. Tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của NLĐ và vì vậy phấn đấu nâng cao tiền lương là yêu cầu tất yếu của NLĐ, mục đích này tạo động lực để NLĐ phát triển trình độ và khả năng lao động của mình.

Hơn nữa, lương cũng là một trong những công cụ kinh tế quan trọng nhất trong quản lý lao động, người ta dùng công cụ này để kích thích thái độ quan tâm và trách nhiệm với công việc của NLĐ. Do đó, tiền lương là một nhân tố mạnh mẽ để tăng NSLĐ, hay nói cách khác, đối với NLĐ, tiền lương là khoản thu nhập chính, để tăng tiền lương họ phải tăng NSLĐ,...

3. ĐỊNH VỊ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC(10)

3.1. Xu hướng phát triển

DNNNN đang ở trong xu hướng ngày càng phát triển, với tốc độ ngày một mạnh hơn, đặc biệt là sẽ có sự gia tăng mạnh về số lượng DN nên tất yếu sẽ kéo theo xu hướng phát triển của lao động trong thời gian tới trên hai bình diện là nhu cầu sử dụng lao động của loại hình DN này ngày một nhiều hơn và chất lượng lao động cũng đòi hỏi ngày càng cao hơn do chính thực tiễn phát triển của DNNNN đặt ra. Hơn nữa, một trong nhưng nhân tố quan trọng và đóng vai trò nền tảng tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển của lao động trong loại hình DN này thời gian tới là Luật Hỗ trợ DNNVV có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 và Nghị quyết số 10 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 3/6/2017. Tuy nhiên, vấn đề lao động lành nghề dù đang được cải thiện nhưng vẫn còn chậm để đáp ứng nhu cầu sản xuất tốt hơn nên sẽ vẫn là tình trạng thiếu hụt nhân công lành nghề của không ít DN nói chung, trong đó chủ yếu là DNNNN nói riêng.

Do vậy, thị trường lao động ở nước ta sẽ chứng kiến xu hướng ngày càng có nhiều việc làm cho lao động lựa chọn do DNNNN tạo ra nhưng sự đáp ứng với yêu cầu công việc của lao động phần lớn vẫn còn thấp do lao động hạn chế về kỹ năng, tay nghề và thường phải trải qua một thời gian nhất định theo hình thức vừa học vừa làm hoặc DNNNN phải đào tạo lại lao động trước khi cho lao động làm việc chính thức.

3.2. Cầu lao động đến năm 2030

Số lao động làm việc trong DNNNN sẽ đạt khoảng 12.845 nghìn người vào năm 2022, 16.020 nghìn người vào năm 2026 và 19.400 nghìn người vào năm 2030. Tính bình quân hàng năm trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cầu lao động trong DNNNN sẽ tăng bình quân 733 nghìn lao động/năm.

Biểu 4: Dự báo cầu lao động trong DNNNN đến năm 2030

Đơn vị tính: Nghìn người


Nguồn: Tổng cục Thống kê và dự báo của Nhóm nghiên cứu.

4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Kết luận

- Sự phát triển của lao động trong DNNNN giai đoạn 2010-2016 đã có sự gia tăng về số lượng hàng năm, được thể hiện ở năm sau có số lượng lao động nhiều hơn năm trước, đặc biệt là có dấu hiệu tăng mạnh kể từ năm 2015. Chất lượng lao động NSLĐ cũng đã có sự cải thiện nhưng vẫn còn chậm,... Vì vậy, nhìn chung sự phát triển của lao động trong loại hình DN này vẫn còn chậm so với tiềm năng và yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.

- Từ nay đến năm 2030, số DNNNN sẽ gia tăng mạnh và nhìn chung hoạt động ngày một hiệu quả hơn, qua đó sẽ thu hút thêm nhiều lao động có trình độ chuyên môn, kỹ năng theo nhu cầu phát triển của DNNNN nói chung, chủ yếu là loại hình DN như công ty TNHH, công ty cổ phần và DN tư nhân nói riêng.

- Chất lượng nguồn lao động đáp ứng nhu cầu của DNNNN trong thời gian tới cũng sẽ được cải thiện ngày một nhiều hơn bởi các cơ sở giáo dục và đào tạo nghề muốn tồn tại và phát triển phải xác định được nhu cầu của thị trường lao động để đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng tốt hơn cầu lao động trên thị trường.

4.2. Khuyến nghị

- Việt Nam có lực lượng lao động đông đảo đang làm việc trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước (46 triệu lao động), trong đó phần lớn không phải là lao động làm công ăn lương. Trong khi phát triển lao động làm công ăn lương là xu hướng tất yếu của kinh tế thị trường. Vì vậy, để phát triển phù hợp hơn với xu hướng này, nước ta cần coi trọng phát triển kinh tế tư nhân hơn nữa, mà trọng tâm là phát triển DNNNN trên nền tảng của một sân chơi bình đẳng giữa các loại hình DN (Các DN vừa là đối tác, cũng có thể vừa là đối thủ của nhau trong một sân chơi, nhưng nếu là đối thủ thì không thể để DN này kìm hãm DN kia về mặt luật chơi, mà thay vào đó là để cho thực tiễn khách quan của quy luật kinh tế thị trường sàng lọc).

- Phát triển DNNNN sẽ tạo ra được nhiều việc làm cho NLĐ và chuyển dịch cơ cấu lao động nhanh theo hướng tăng mạnh số lao động làm công ăn lương, thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động, thị trường lao động phát triển sẽ là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy các thị trường khác cùng phát triển.

- DNNNN là tổ chức sử dụng lao động để thực hiện nhiệm vụ phát triển DN. Vì vậy, lãnh đạo DNNNN phải coi trọng việc sử dụng lao động theo hướng thời gian làm việc của lao động là lợi nhuận, là vàng bạc của DN và cũng là của NLĐ. Bên cạnh đó, DN cũng cần phải chú trọng hơn việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho lao động.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tổng quan về tình hình DN và nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội 2014-2015 (Báo cáo phục vụ Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với DN năm 2014).

2. Nghị quyết số 10-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

3. Luật Hỗ trợ DNNVV.

4. VCCI, Báo cáo thường niên DN Việt Nam 2016.

5. Tổng cục Thống kê, Sự phát triển của DNNNN giai đoạn 2006-2011.

6. Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê các năm từ 2010-2016.

7. Tổng cục Thống kê, Báo cáo điều tra lao động việc làm các năm từ 2014-2016.

8. Tổng cục Thống kê, Hiệu quả của các DN trong nước giai đoạn 2005-2014.

9. Tổng cục Thống kê, NSLĐ của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, 2016.


  TS. Nguyễn Văn Thuật, ThS. Nhữ Lê Thu Hương, ThS. Nguyễn Thị Hồng

(Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia)

 

  



([1]) Vấn đề đào tạo lại nhân lực nói riêng và đào tạo nguồn nhân lực nói chung đáp ứng nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, mà trọng tâm là đáp ứng nhu cầu của DN, thị trường lao động là minh chứng quan trọng cho mối quan hệ phát triển này.

([2]) VCCI, Báo cáo thường niên DN Việt Nam 2016.

([3]) Tổng cục Thống kê, Hiệu quả của các DN trong nước giai đoạn 2005-2014.

([4]) Lao động trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước ở nước ta chủ yếu là lao động không làm công ăn lương.

([5]) Lao động trong DNNNN đại đa số là lao động làm công ăn lương, ước tính chỉ có 1 số rất ít lao động trong DN tư nhân không phải là lao động làm công ăn lương. Theo Tổng cục Thng kê, đối với các DN tư nhân thì những người là thành viên trong gia đình có tham gia quản lý sản xuất hoặc trực tiếp sản xuất, nhưng không nhận tiền lương,tiền công - thu nhập của họ là thu nhập hỗn hợp, bao gồm cả lãi kinh doanh – cũng được tính là lao động của DN. 

([6]) Công ty cổ phần bao gồm không có vốn nhà nước và có tỷ lệ vốn nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

([7]) Xem thêm Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2016 của Tổng cục Thống kê (trang 20).

([8]) 1.300 tỉ đồng đưa cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đi XKLĐ (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/tuyen-sinh/1-300-ti-dong-dua-cu-nhan-thac-si-that-nghiep-di-xuat-khau-lao-dong-381884.html).

([9]) Báo cáo “NSLĐ của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của Tổng cục Thống kê (trang 16).

([10]) Trên cơ sở phân tích về thực trạng phát triển của lao động trong DNNNN như đã nêu và dựa trên phân tích tác động và hiệu quả của Luật Hỗ trợ DNNVV có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 và Nghị quyết số 10-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nói chung, cũng như việc sử dụng mô hình SIMOS với sự hỗ trợ của một số đồng nghiệp công tác tại Viện nghiên cứu các thiết chế và biến động mang tính lịch sử kinh tế - xã hội (IDHES), Đại học Paris 10 và một số chuyên gia trong nước nói riêng. Nhóm nghiên cứu nhận định xu hướng phát triển của lao động và dự báo cầu lao động trong loại hình DN này đến năm 2030.

 

Tin khác

Bình luận