GMT+7

Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Những cơ hội đến từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hàm ý chính sách

(TDB) - Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ tư đem lại cho chính sách an sinh xã hội của Việt Nam nhiều thách thức và cơ hội. Chúng ta không thể lảng tránh các thách thức đó mà cần đối mặt và vượt qua nó. Một trong những chiến lược thông minh để vượt qua các thách thức đó là tận dụng các cơ hội mà chính cuộc cách mạng này đem lại đối với chính sách an sinh xã hội. Sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh và phân tích tài liệu, bài viết này mong muốn đề xuất một số hàm ý chính sách để hoàn thiện chính sách an sinh xã hội trên cơ sở phân tích những vấn đề đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội và sự đáp ứng của các công nghệ của cuộc cách mạng lần thứ tư.

1. Những vấn đề đang đặt ra đối với chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam
 
 PGS. TS. Bùi Văn Huyền 

Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị ở Việt Nam. Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực thuộc phạm vi của chính sách an sinh xã hội được gia tăng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn đầu tư khác. Các lĩnh vực xung yếu của chính sách an sinh xã hội như giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn, công tác gia đình và bình đẳng giới được quan tâm thực hiện. Trên cơ sở những thành công đó, nước ta được Liên Hợp Quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ.

Tuy nhiên, chính sách an sinh xã hội ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới.

Thứ nhất, về những hạn chế

Một là, tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo hiện còn đang khá cao

Theo đánh giá của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nhiều huyện vẫn còn tỷ lệ hộ nghèo cao. Cả nước hiện nay đang có 41 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 50%. Thu nhập của đồng bào thiểu số bằng 1/6 mức thu nhập trung bình của cả nước. Trong thực tế, các chương trình hỗ trợ trực tiếp khiến nhiều hộ thoát nghèo nhưng chỉ sau lần lâm bệnh hoặc sau một đêm bão lại rơi vào cảnh nghèo. Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đánh giá "cứ 03 hộ thoát nghèo thì có 01 hộ tái nghèo"[1].

Hai là, chất lượng giáo dục đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động

Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 1.989 cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng đào tạo của các cơ sở này nhìn chung có nhiều đổi mới. Tuy nhiên, đứng trước một thị trường lao động năng động và thay đổi nhanh chóng, hệ thống các trường đào tạo nghề chưa thay đổi kịp với yêu cầu. Mục tiêu chiến lược dạy nghề giai đoạn 2011-2015 là đào tạo mới khoảng 9,6 triệu người nhưng trên thực tế mới chỉ đạt được 9,1 triệu người. Mục tiêu tuyển sinh trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề chỉ đạt 53% kế hoạch, tuyển sinh trình độ trung cấp chuyên nghiệp giảm 15%/năm[2]. Dự báo đến năm 2025, lao động Việt Nam sẽ có sự chuyển dịch mạnh từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ. Với thực trạng đào tạo nghề như vậy, lực lượng lao động trong nông nghiệp sẽ khó có khả năng đáp ứng được những nhu cầu về lao động ngày càng cao trong khu vực công nghiệp và dịch vụ.

Ba là, chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của nhân dân

Theo báo cáo của Bộ Y tế, tổ chức mạng lưới và cơ chế hoạt động của các cơ sở y tế vẫn chưa đảm bảo cung cấp dịch vụ toàn diện, liên tục, có chất lượng do thiếu sự kết nối hữu cơ giữa các tuyến, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong bối cảnh thay đổi mô hình bệnh tật. Tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến Trung ương vẫn chưa được cải thiện, đặc biệt là các bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến cuối như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Nhi đồng I và II, và các chuyên khoa Tim mạch, Ung bướu, Chấn thương chỉnh hình, Sản, Nhi, Hô hấp, Huyết học, Nội tiết,... chưa được cải thiện đột phá và triệt để. Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe còn nhiều vấn đề cần phải cải thiện cả về cách thức tổ chức cung ứng dịch vụ, thủ tục hành chính, chất lượng chuyên môn còn nhiều bất cập. Kết quả chấm điểm cuối năm 2015 và đầu năm 2016 cho thấy đã có sự cải thiện về chất lượng bệnh viện so với năm 2013 và 2014 nhưng chưa thực sự tạo ra những đột phá chuyển biến mới[3].

Bốn là, tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp

Theo Báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đến nay vẫn còn khoảng 73% người lao động chưa tham gia bảo hiểm xã hội. Trong khu vực có quan hệ lao động hiện nay, đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội đạt gần 14 triệu lao động tham gia. Số lượng đó mới đạt mức khoảng 65% tổng số lao động đang làm việc, do đó vẫn còn khoảng 5,5 triệu lao động thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa tham gia bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, khu vực lao động phi chính thức chưa có nhiều người lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Với xấp xỉ 70% lực lượng lao động của quốc gia là lao động phi chính thức nhưng mới chỉ có gần 250 nghìn người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện[4].

Năm là, đời sống của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn

Mặc dù đã có nhiều chính sách được triển khai thực hiện trên thực tế, nhiều nguồn lực được ưu tiên đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhưng điều kiện cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế - xã hội nơi đây còn nhiều khó khăn. Tại nhiều địa phương, người dân tộc thiểu số chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ thiết yếu như đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện lưới, nước sạch, nhà ở, tài sản lâu bền và liên kết với các thị trường. Người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 15% tổng dân số nước ta và hiện nay đang có cơ cấu dân số trẻ. Chất lượng nguồn lao động người dân tộc thiểu số còn thấp cả về trí lực và thể lực, kiến thức, kỹ năng và sự thích ứng môi trường lao động của người dân tộc thiểu số còn nhiều yếu kém. Tình trạng thiếu việc làm của thanh niên người dân tộc thiểu số đang ngày càng gia tăng[5].

Các hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm: (i) nước ta chịu nhiều gánh nặng từ hậu quả của chiến tranh để lại rất nặng nề; (ii) quản lý nhà nước còn nhiều chồng chéo, bất cập; (iii) chính sách an sinh xã hội được chậm đổi mới so với chính sách tăng trưởng và phát triển kinh tế; (iv) các giải pháp hữu hiệu để thu hẹp khoảng cách về mức sống của người dân còn thiếu vắng; (v) sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập; (vi) công tác thanh tra, kiểm tra còn chưa được chú trọng.

Thứ hai, về những thách thức

Một là, xu hướng già hóa dân số đang gia tăng nhanh

Hiện tượng già hóa dân số đặt ra nhiều thách thức đối với chính sách an sinh xã hội trong hiện tại và tương lai. Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, nhưng tốc độ già hóa dân số trở nên nhanh hơn do nước ta mới chỉ là một nước có thu nhập trung bình thấp. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11% dân số, trong đó số người từ 80 tuổi trở lên là hai triệu người. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi ở Việt Nam sẽ chiếm 18% và năm 2050 là 26%[6]. Điều này sẽ tạo nên áp lực lớn đối với hệ thống y tế, bảo hiểm xã hội và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

Hai là, các nguy cơ, rủi ro về kinh tế gia tăng khi Việt Nam đang tiến hành cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ sử dụng nhiều lao động phổ thông giản đơn và vốn, tài nguyên, hiệu quả thấp sang sử dụng lao động có trình độ hơn và sử dụng hiệu quả vốn, tài nguyên nhằm nâng cao giá trị gia tăng và tập trung vào một số ngành mũi nhọn có hàm lượng khoa học công nghệ cao. Quá trình đó gắn với sự chuyển dịch cơ cấu lao động, phân bổ lại lực lượng lao động và trên thực tế tiến hành phân công lại lao động xã hội. Hơn nữa, quá trình cơ cấu lại còn tạo ra những dòng di chuyển việc làm, di chuyển lao động và gây ra những biến đổi về mặt xã hội, thay đổi cơ cấu dân cư – xã hội, nghề nghiệp và thay đổi mức sống của người dân. Trên thực tế, thách thức này sẽ càng trở nên nghiêm trọng hơn nếu Chính phủ không có những giải pháp thích hợp.

Ba là, nhận thức về chính sách an sinh xã hội của cơ quan, doanh nghiệp còn nhiều bất cập

Trong điều kiện mới của nền kinh tế Việt Nam, nhiều vấn đề an sinh xã hội mới nảy sinh chưa được giải đáp một cách thỏa đáng về mặt lý luận và thực tiễn. Nhận thức của nhiều cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân về vị trí, vai trò của chính sách an sinh xã hội còn hạn chế, chưa đúng và chưa đầy đủ, thậm chí chưa coi chính sách an sinh xã hội là cơ sở ổn định, bền vững của chế độ chính trị - xã hội Việt Nam. Do đó, có nhiều doanh nghiệp đã tìm cách trốn đóng bảo hiểm xã hội hoặc cố tình nợ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động. Nhiều địa phương đã quá chú trọng tập trung nguồn lực vào tăng trưởng kinh tế mà lãng quên các mục tiêu liên quan chính sách an sinh xã hội.

2. Những cơ hội mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại đối với việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam

Cuộc CMCN lần thứ tư đang dần dần hình thành với những công nghệ tiên tiến bậc nhất của loài người như: (i) Trí tuệ nhân tạo; (ii) Dữ liệu cỡ lớn; (iii) In 3D; (iv) Internet vạn vật; (v) Người máy. Các công nghệ đó đem lại cơ hội và thách thức cho chính sách an sinh xã hội nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Thách thức được nhiều người nhắc đến đó là sự thay thế của người máy đối với người lao động dẫn tới sự thất nghiệp hàng loạt của người lao động và làm cho việc đáp ứng yêu cầu của chính sách an sinh xã hội của các quốc gia trở nên nặng nề hơn. Tuy nhiên, cuộc CMCN lần thứ tư sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn là thách thức. Trong đó, cơ hội rất lớn trong việc hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ngày một rõ ràng hơn. Các cơ hội này bao gồm:

Thứ nhất, các công nghệ mới của cuộc CMCN lần thứ tư đem đến nhiều cơ hội việc làm cho người lao động

Có nhiều người lo lắng về những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc CMCN lần thứ tư đối với việc làm của người lao động và thị trường lao động. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tổng số việc làm của nền kinh tế không thể giảm xuống. Các công nghệ mới như siêu tự động hóa, siêu kết nối có thể nâng cao năng suất lao động của những công việc hiện tại và tạo ra nhu cầu đối với những công việc hoàn toàn mới. Có thể hiện nay chúng ta khó có thể hình dung ra được công việc trong tương lai như thế nào, nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau về những tác động tích cực của CMCN lần thứ tư với việc gia tăng việc làm (Frey & Osborne, 2017; Wisskirchen et al., 2017).

Việc dự báo tăng trưởng việc làm trong tương lai là một công việc khó khăn bởi nó phụ thuộc vào những công nghệ và mối quan hệ lao động chưa tồn tại trong điều kiện hiện tại.

Để có thể dự báo ảnh hưởng của cuộc CMCN lần thứ tư đối với cơ hội việc làm của người lao động, bài viết này lựa chọn lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (TTNT)[7]. Trong giai đoạn đầu tiên của sự phát triển TTNT, sự phát triển việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và nó lan tỏa ra nhiều ngành công nghiệp và cấp độ kỹ năng khác nhau. Về mặt lý thuyết, TTNT sẽ đòi hỏi các lập trình viên có kỹ năng cao và các kỹ sư tài năng để có thể chuyển hóa những nghiên cứu về TTNT thành sản phẩm phục vụ loài người. Tuy nhiên, TTNT chỉ có thể hoạt động hiệu quả nếu được xây dựng trên cơ sở dữ liệu đầy đủ và phong phú, điều đó dẫn tới sự gia tăng nhu cầu tuyển dụng đối với những công việc tạo, thu thập, và quản lý những dữ liệu có liên quan để phục vụ hệ thống TTNT. Ứng dụng của TTNT trải rộng trên phạm vi từ những công việc phức tạp như nhận dạng ung thư trên các phim tia X tới những công việc đơn giản hơn như nhận dạng ký tự. Cuối cùng, nhiều việc làm sẽ được phát triển trong các lĩnh vực như hội họa tự do và khoa học xã hội, như các triết gia với khuôn khổ phân tích đối với các đánh giá về mặt đạo đức và các nhà xã hội học trong việc tìm kiếm những ảnh hưởng của công nghệ đối với một bộ phận đặc thù dân cư. Những ngành nghề đó cung cấp thông tin đầu vào cho những công nghệ mới với thông tin về sự phức tạp của xã hội và những nghịch lý đạo đức.

Thứ hai, các công nghệ mới của cuộc CMCN lần thứ tư đem đến nhiều cơ hội hoàn thiện chính sách giáo dục toàn dân

Cuộc CMCN lần thứ tư đặt ra những yêu cầu mới về kỹ năng của người lao động bao gồm: (i) kỹ năng liên quan đến nhận thức; (ii) kỹ năng về xã hội; (iii) kỹ năng về thể chất. Trong đó, các kỹ năng liên quan đến nhận thức bao gồm: tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phê bình; kỹ năng về xã hội bao gồm: kỹ năng ứng xử, kỹ năng tạo lập các mối quan hệ; kỹ năng về thể chất bao gồm: kỹ năng số, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng về cuộc sống.

Nguồn lực lao động với những yêu cầu mới về các tập hợp kỹ năng trên đặt trọng tâm mới đối với chính sách giáo dục toàn dân. Nhu cầu về các kỹ năng lao động mới đưa ra những tín hiệu đối với sự đổi mới chính sách giáo dục toàn dân, định hướng mới đối với chính sách giáo dục.

Trong cuộc cách mạng sản xuất mới, tri thức và thông tin về những kỹ năng cần thiết tồn tại ở nhiều nơi khác nhau, hiện diện trong mọi mặt của cuộc sống và hoạt động sản xuất (OECD, 2015). Điều quan trọng trong kỷ nguyên mới này không nằm ở các tri thức và thông tin đó mà là khả năng, kỹ năng áp dụng các tri thức đó vào trong quá trình lao động, sản xuất. Chìa khóa thành công của người lao động nằm ở kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng kết hợp nhiều kiến thức khác nhau để giải quyết vấn đề. Sự đòi hỏi mới đó tiếp tục đặt ra những áp lực và yêu cầu đổi mới chính sách giáo dục toàn dân.

Thứ ba, các công nghệ mới của cuộc CMCN lần thứ tư góp phần mở rộng diện bao phủ của chính sách an sinh xã hội

CMCN lần thứ tư đem lại một nền tảng công nghiệp mới cho xã hội, trong đó đặc biệt là nền tảng cho những công việc trước đây chưa từng có. Người lao động có kỹ năng trở nên dễ dàng hơn trong việc đảm bảo việc làm của bản thân mình. Người lao động chưa có kỹ năng có thể tham gia đào tạo hoặc tự đào tạo mình dễ dàng hơn, đôi khi chỉ đơn giản thông qua một phần mềm hoặc một nền tảng công nghệ (platform). Điều đó đem đến những cơ hội mới cho việc mở rộng diện bao phủ của chính sách an sinh xã hội và giảm gánh nặng tài chính đối với các hoạt động bảo trợ của Chính phủ. Người lao động có việc làm, có thu nhập sẽ không hưởng trợ cấp từ phía Chính phủ, thay vào đó, họ sẽ tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế để bảo vệ chính bản thân họ.

Hơn nữa, công nghệ dữ liệu cỡ lớn (big data) sẽ giúp cho người quản lý bao quát được diện bao phủ của chính sách an sinh xã hội một cách khá chính xác. Những dữ liệu liên quan đến an sinh xã hội, thông qua các ứng dụng của công nghệ AI, sẽ thu thập và xử lý dữ liệu trên hệ thống đã được thiết lập sẵn theo thời gian thực. Một công dụng khác của công nghệ này, giúp người quản lý dễ dàng theo dõi và giám sát các hoạt động liên quan đến chính sách an sinh xã hội lấy người sử dụng làm trung tâm (xem mô hình sau).

Hình 1: Mô hình an sinh xã hội lấy người sử dụng làm trung tâm


KẾT NỐI DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ DỮ LIỆU CỠ LỚN 

Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

Thứ tư, các công nghệ mới của cuộc CMCN lần thứ tư góp phần định hình chính sách an sinh xã hội một cách hệ thống và hiện đại

Các công nghệ mới của cuộc CMCN lần thứ tư đem lại nhiều dạng thức việc làm mới cho người lao động. Công việc bán thời gian, việc làm phi chính thức hoặc tự làm chủ với tần suất thay đổi công việc cao của người lao động đã trở thành hiện thực trong kỷ nguyên mới. Công nghệ Internet vạn vật, các nền tảng công nghệ dữ liệu cỡ lớn đang đặt ra sức ép thay đổi hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng những nhu cầu mới của người thụ hưởng an sinh xã hội. Các nguyên tắc căn bản của an sinh xã hội sẽ cần được thay đổi để theo kịp tiến trình phát triển của việc làm và các mối quan hệ lao động. Những tài khoản an sinh xã hội cấp cho người thụ hưởng sẽ duy trì được diện bao phủ đối với người thụ hưởng không kể đến yếu tố địa lý. Người lao động có thể di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác để tìm kiếm việc làm nhưng không bị ảnh hưởng đến chế độ an sinh xã hội mà họ đang được hưởng. Với nền tảng công nghệ dữ liệu cỡ lớn, người thụ hưởng có thể tự khai báo tình trạng việc làm của mình trên một tài khoản duy nhất của mình từ làm việc có hợp đồng, làm việc có thời hạn hoặc hợp đồng vô thời hạn sang tình trạng tự làm chủ hoặc làm việc bán thời gian để được tính toán mức đóng – hưởng an sinh xã hội một cách tự động.

3. Một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Thứ nhất, chính sách giáo dục của Việt Nam cần được thay đổi để đáp ứng nhu cầu kỹ năng mới của cuộc CMCN lần thứ tư

Một là, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn đồng nghĩa với việc kỹ năng cần thiết sẽ được yêu cầu cao hơn. Những kỹ năng lao động được tích lũy thông qua quá trình học tập và làm việc. Mỗi một cấp học khác nhau sẽ đem lại những tập hợp kỹ năng khác nhau. Do đó, để người lao động có được những kỹ năng đáp ứng được yêu cầu mới, người lao động nên được kéo dài thời gian học tập.

Hai là, trong bối cảnh kinh tế - xã hội phức tạp hơn, chương trình đào tạo cũng cần được xây dựng một cách đa chiều và phong phú hơn. Để người lao động có được những kỹ năng phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội mới, các chương trình đào tạo trong các nhà trường từ phổ thông, dạy nghề tới đào tạo bậc cao cần tích hợp các kỹ năng mới đáp ứng được yêu cầu mới của việc làm và lao động (McGowan & Andrews, 2015).

Ba là, ứng dụng công nghệ vào trong quá trình đào tạo một cách thông minh. Người lao động trong thời đại CMCN lần thứ tư cần thành thạo sử dụng các công nghệ. Cách thức thông minh nhất để trang bị các kỹ năng này cho người lao động là thông qua việc sử dụng các công nghệ này trong quá trình đào tạo. Công nghệ giúp cho người học không chỉ gia tăng hiểu biết về các kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn thúc đẩy sự chia sẻ thông tin giữa các giáo viên, giữa giáo viên và sinh viên. Bên cạnh đó, việc sử dụng công nghệ thường xuyên trong quá trình học tập cũng dần dần hình thành và tích lũy các kỹ năng cần thiết về công nghệ cho người lao động khi tham gia thị trường lao động (Andrews & Criscuolo, 2013).

Thứ hai, áp dụng kết hợp công nghệ dữ liệu cỡ lớn và công nghệ học tập của máy móc để có được một chính sách an sinh xã hội đảm bảo an sinh trong vòng đời của người dân

Trước những cơ hội mà cuộc CMCN lần thứ tư mang lại, chúng ta có thể hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam trên cơ sở xác định một phương pháp tiếp cận mới. Với những công nghệ ưu thế vượt trội so với các làn sóng công nghệ trước đây, các công nghệ mà cuộc CMCN lần thứ tư mang đến cho con người những công cụ mạnh mẽ để hoàn thiện mô hình an sinh xã hội trên toàn bộ vòng đời của người dân. Để làm được điều đó, chúng ta cần hiểu được nhu cầu cơ bản về an sinh xã hội của người dân trong từng độ tuổi khác nhau. Chúng ta cùng tham khảo hình 2 sau: 

Hình 2: Mô hình an sinh toàn bộ vòng đời 


Nguồn: Mercer (2016), trích dẫn trong WEF (2017, p. 37).

Với công nghệ dữ liệu cỡ lớn và công nghệ học tập của máy móc (machine learning), chúng ta có thể hiện thực hóa việc tính toán các nhu cầu an sinh xã hội của người dân theo từng nhóm tuổi. Việc phân khúc các nhóm người dân theo độ tuổi là cần thiết đối với việc thiết kế các chính sách an sinh xã hội phù hợp với mọi độ tuổi. Các cấu phần của chính sách an sinh xã hội hiện nay chưa có sự phân biệt nhu cầu giữa các độ tuổi khác nhau bởi vì công nghệ chưa cho phép thực hiện việc phân nhóm như vậy một cách tự động. Tuy nhiên, sự kết hợp công nghệ dữ liệu cỡ lớn với công nghệ học tập của máy móc sẽ giải quyết vấn đề này một cách trọn vẹn thông qua việc sử dụng thuật toán phân cụm. Theo đó, thuật toán phân cụm không chỉ phân tích dữ liệu để tìm điểm tương đồng mà còn cả những điểm khác biệt về nhu cầu sử dụng an sinh xã hội giữa các nhóm tuổi khác nhau.

Thứ ba, áp dụng công nghệ TTNT trong quản lý lao động và kết nối việc làm giữa người lao động và doanh nghiệp

Việc tuyển dụng, sử dụng và giữ chân người tài[8] trong các doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuyển dụng không đúng người tài hoặc hệ thống tuyển dụng không có khả năng đánh giá chính xác tài năng của người lao động sẽ làm thiệt hại cho doanh nghiệp rất lớn. Các chi phí tuyển dụng, đào tạo lại hoặc sa thải người lao động là những chi phí lãng phí của doanh nghiệp và xã hội nếu hoạt động đó không đem lại người tài cho doanh nghiệp. Để tiết kiệm các khoản chi phí đó, TTNT là một giải pháp hữu hiệu đối với doanh nghiệp và xã hội.

TTNT giúp cho người sử dụng lao động tìm được ứng viên tốt nhất cho những vị trí còn trống. Đồng thời, TTNT cũng giúp cho người lao động biết được vị trí nào tốt nhất đối với bộ kỹ năng mà mình có. Sự kết hợp đó không những giảm chi phí cho cả người lao động và người sử dụng lao động mà còn gia tăng cơ hội việc làm cho người lao động. Hơn nữa, công nghệ này cũng hỗ trợ người lao động trong việc đào tạo lại những kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động. Nếu người lao động chưa có đủ các kỹ năng cho một nhóm các công việc, họ sẽ không có cơ hội để tiếp cận thông tin từ công việc đó[9].

Để làm được điều đó, Chính phủ cần xây dựng khung khổ hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ này. Đồng thời, các Bộ liên quan cần thảo luận đi đến thống nhất bộ kỹ năng cần thiết của người lao động theo các nhóm công việc hoặc ngành công nghiệp. Làm được điều này, thị trường lao động sẽ hoạt động hiệu quả hơn, người có tài sẽ tối đa hóa sự hữu ích của tài năng của mình và cả xã hội sẽ giảm được nhiều loại chi phí liên quan đến việc này.

Thứ tư, xây dựng nền tảng số cho chính sách an sinh xã hội đem lại việc làm cho người lao động ở nhiều trình độ kỹ năng khác nhau

Việc xây dựng nền tảng số cho chính sách an sinh xã hội cần được chuẩn bị thực hiện trong điều kiện, bối cảnh mới của nền kinh tế nước ta, một nền kinh tế đang dần chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa theo chiều sâu và gia tăng hàm lượng khoa học, kỹ thuật. Điều đó cũng hàm ý nền kinh tế mới mà chúng ta đang theo đuổi sẽ dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ số với những cải cách lớn mà hệ thống chính sách an sinh xã hội cần được chuẩn bị trong một thời gian đủ dài để chuyển hóa những công nghệ, dạng dữ liệu cũ sang công nghệ và dạng dữ liệu mới. Những kho tài nguyên số cho chính sách an sinh xã hội cần được xây dựng với nguồn nhân lực lớn và thời gian đào tạo không quá dài (thường khoảng từ 2 tuần cho đến 5 tháng tùy theo mức độ phức tạp của công việc). Ở tầng nấc cao hơn, những kỹ sư lập trình công nghệ TTNT, hay những chuyên gia về dữ liệu cỡ lớn sẽ sử dụng các nguồn thông tin đầu vào từ kho tài nguyên số để xây dựng thuật toán và mã hóa phần mềm nhằm triển khai thực hiện chính sách an sinh xã hội một cách tự động. Toàn bộ quá trình này không chỉ cải thiện toàn diện việc vận hành chính sách an sinh xã hội mà còn tạo ra nhiều dạng công việc, việc làm mới cho người lao động. Xét cho cùng, công cuộc chuyển mình số hóa của các thể chế trong lĩnh vực an sinh xã hội là cơ hội việc làm đối với người lao động ở các bậc trình độ kỹ năng khác nhau.

Thứ năm, định hình mô hình an sinh xã hội mới của Việt Nam trên cơ sở ứng dụng những thành tựu mới nhất của CMCN lần thứ tư

Mô hình an sinh xã hội của Việt Nam hiện nay đang được vận hành trên nền tảng công nghệ cũ và được dự báo sẽ dần dần bị thay thế bởi những công nghệ mới nhất của thời đại công nghệ số và kỷ nguyên công nghệ 4.0. Mô hình an sinh xã hội với đặc trưng của nhiều lĩnh vực đa dạng, đối tượng thụ hưởng cũng rất phong phú và diện bao phủ ở mức tối ưu là toàn bộ dân số. Yêu cầu đó tất yếu dẫn tới việc xây dựng mô hình an sinh xã hội dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ mới nhất. Nhiều quốc gia trên thế giới đang triển khai chuyển đổi hệ thống cơ sở dữ liệu của hệ thống an sinh xã hội từ dạng cổ điển (dựa trên giấy tờ, cần kho lưu trữ vật lý lớn) sang dạng số (dựa trên các tài khoản điện tử, cần không gian lưu trữ trên mạng lớn). Với những công nghệ như điện toán đám mây, cơ sở dữ liệu cỡ lớn, chuỗi khối (block chain), TTNT, và những công nghệ mới khác, diện mạo mô hình an sinh xã hội mới sẽ khác với những gì mà chúng ta đang chứng kiến. Hiện nay, Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam đang xây dựng kế hoạch triển khai những giải pháp thiết thực để ứng dụng công nghệ 4.0 và đối với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, Việt Nam cần tiếp cận, ứng dụng các công nghệ mới để đáp ứng được yêu cầu và kỳ vọng mở rộng diện bao phủ của chính sách an sinh xã hội, mở rộng được giới hạn việc làm vốn đã khá chật hẹp của đất nước.

PGS. TS. Bùi Văn Huyền

Viện Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội, số 154 - tháng 10/2018


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Andrews, D., & Criscuolo, C. 2013, Knowledge-based capital, innovation and resource allocation.

2. Frey, C. B., & Osborne, M. A. 2017, The future of employment: how susceptible are jobs to computerisation? Technological Forecasting and Social Change, 114, 254-280.

3. McGowan, M. A., & Andrews, D. 2015, Skill mismatch and public policy in OECD countries.

4. OECD, 2015, The next production revolution: Implications for governments and business, Retrieved from Paris.

5. WEF, 2017, The Global Risks Report,Retrieved from Geneva.

6. Wisskirchen, G., Biacabe, B. T., Bormann, U., Muntz, A., Niehaus, G., Soler, G. J., & von Brauchitsch, B. 2017, Artificial intelligence and robotics and their impact on the workplace,IBA Global Employment Institute.

 


[3] http://www.nhandan.com.vn/suckhoe/tin-tuc/item/22092102-nang-cao-chat-luong-kham-chua-benh-cho-nhan-dan.html và Báo cáo tổng kết công tác năm 2016, 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2017, 2018 của Bộ Y tế.

[7] TTNT đã tồn tại qua nhiều thập kỷ, nhưng mới chỉ phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây. Các cấu phần của TTNT bao gồm: (i) Trợ lý ảo: công nghệ ứng dụng quy trình xử lý ngôn ngữ để giao tiếp với con người; (ii) Tương tác thực tế: đưa thông tin số vào một môi trường hiện có; (iii) Nhận thức của hệ thống máy móc: công nghệ sử dụng lượng lớn thông tin dữ liệu để phân tích và ra quyết định; (iv) Tính toán nhận thức: bắt chước các chức năng của não bộ; (v) Phân tích dự báo: sử dụng dữ liệu, thuật toán thống kê để đưa ra các dự báo.

[8] Khái niệm người tài bao gồm những cá nhân tài năng toàn diện và những cá nhân tài năng ở một phương diện mà người sử dụng lao động cần.

[9] Mạng việc làm vietnamworks có thể coi là một ví dụ điển hình cho vấn đề này.


Tin khác

Bình luận

   

 

 

 

 

X
Nhấn vào để bình chọn