GMT+7

Về chính sách phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011-2016

(TDB) - Sự phát triển của kinh tế trang trại (KTTT) tại tỉnh Bình Phước thời gian qua đã góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo… Để KTTT ở Bình Phước tiếp tục phát triển phát triển tương xứng với tiềm năng của Tỉnh, cần phải có các giải pháp đồng bộ từ quy hoạch đến chính sách hỗ trợ đất đai, tín dụng, chính sách phát triển nguồn nhân lực...

1. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011-2016

1.1. Loại hình và quy mô trang trại

Tại Bình Phước, loại hình trang trại trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn, chiếm đến 72,75% tổng số trang trại của Tỉnh. Nguyên nhân là do đặc thù về đất đai của Bình Phước: đất đỏ bazan và đất phù sa - loại đất phù hợp để phát triển cây công nghiệp lâu năm có giá trị gia kinh tế cao như cao su, điều, cà phê (với chi phí thấp) chiếm tới 61,07%. Do đó, Bình Phước có thế mạnh về phát triển trang trại trồng trọt với các loại cây lâu năm và vì vậy cũng có rất ít trang trại chăn nuôi đơn thuần và trồng cây hàng năm.

Bảng 1: Thống kê số lượng trang trại tỉnh Bình Phước

 Loại hình  Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
Năm
2014
Năm
2015
Năm
2016
 Tổng số trang trại  1.237  1.355  1.356  1.082  1.071  895
 Trang trại trồng trọt  1.145  1.252  1.237  927  900  651
 Trang trại chăn nuôi  82  98  110  129  150  197
 Trang trại nuôi trồng thuỷ sản  0 0 0 0 0 0
 Trang trại lâm nghiệp  2 0 0 0 0 1
 Trang trại kinh doanh tổng hợp 5 9 26 21 46
 Tổng diện tích đất (ha)  22.666  31.037  31.060  18.620  17.794  17.365
 Tổng số lao động (người)  16.371  16.024  15.695  15.903  16.435  13.123

Nguồn: Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước năm 2017.

Bảng 1 cho thấy, trong giai đoạn 2011-2016, theo tiêu chí mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số trang trại có xu hướng giảm, từ 1.237 năm 2011 xuống còn 895 trang trại năm 2016, tốc độ giảm trung bình cả giai đoạn là 94,39%/năm. Tuy nhiên, có sự tăng, giảm khác nhau giữa các loại hình trang trại trong giai đoạn này(1): Cụ thể, trang trại chăn nuôi và trang trại kinh doanh tổng hợp có xu hướng tăng mạnh với tốc độ tăng trung bình của trang trại chăn nuôi là 19,33%/năm và trang trại kinh doanh tổng hợp là 66,24%/năm. Đáng lưu ý, sự biến động mạnh xảy ra trong thời gian chuyển tiếp từ năm 2013 và năm 2014. Do trong thời gian này, để tăng thu nhập trên cùng một diện tích đất, các trang trại ở Bình Phước thực hiện việc kết hợp áp dụng các mô hình ứng dụng công nghệ cao đa dạng, mở rộng phạm vi sản xuất, kinh doanh, tận dụng lợi thế kinh tế theo công nghệ, phạm vi thông qua các mô hình vườn ao chuồng, vườn ao chuồng biogas... nên đã dần chuyển dịch cơ cấu trang trại sang chăn nuôi và dịch vụ tổng hợp nhiều hơn. Sự tăng mạnh về loại hình trang trại chăn nuôi và trang trại kinh doanh tổng hợp - loại hình sản xuất mới gắn với kinh tế hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp hiện đại… là phù hợp với xu hướng chung trên cả nước.

Mặc dù chiếm số lượng lớn trong tổng số trang trại của Tỉnh nhưng trang trại trồng trọt có xu hướng giảm, kéo theo đó là diện tích đất sử dụng trang trại giảm 12.440 ha. Lượng giảm này được xác định thuộc loại hình trang trại trồng cây ngắn ngày với những bất lợi về giá nông sản, nên sau đó đa số đã chuyển sang mô hình trang trại tổng hợp. 

Số lượng trang trại tuy có giảm nhưng chất lượng và quy mô sản xuất của các trang trại trên địa bàn tỉnh ngày càng chuyển biến rõ rệt, mức độ quy mô đầu tư ngày càng tăng, hiệu quả mang lại ngày càng lớn, đặc biệt là tính chuyên môn hóa ngày càng cao. Theo kết quả khảo sát điều tra KTTT của tác giả năm 2017, có 19 trang trại có vốn đầu tư từ 10-15 tỷ đồng, chiếm 31,7%; 17 trang trại có vốn từ 0-5 tỷ đồng, chiếm 28,3%; 13 trang trại có vốn đầu tư trên 15 tỷ đồng, chiếm 21,7%; 11 trang trại có vốn đầu tư từ 6-10 tỷ đồng, chiếm 18,3%. 

1.2. Chủ trang trại và lực lượng lao động

Chủ trang trại và lượng lao động tham gia KTTT có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của trang trại. 

Theo số liệu điều tra khảo sát KTTT của tác giả năm 2017, trong 60 chủ trang trại được điều tra, có 46% chủ trang trại có trình độ trung học phổ thông; 42% có trình độ cao đẳng, đại học; 7% có trình độ trung học cơ sở; và 5% có trình độ sau đại học. Điều này cho thấy các chủ trang trại ở tỉnh Bình Phước mới chủ yếu học hết phổ thông và có trình độ nghề chuyên môn thuộc loại thấp. Đây là một lực cản trong phát triển KTTT bởi họ sẽ không phát huy được lợi thế kinh tế theo quy mô và khi quy mô lớn lên, nếu không quản lý tốt, không áp dụng công nghệ - máy móc hiện đại sẽ làm cho năng suất lao động bị giảm đi. 

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, lao động tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất trong trang trại có trình độ học vấn ở cấp tiểu học chiếm 38,3%; lao động có trình độ trung học cơ sở chiếm 33,3%; lao động có trình độ trung học phổ thông chiếm 20% và lao động có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 8,3%. Như vậy, mặt bằng chung thì lực lượng lao động có trình độ tương đối thấp, đa số dừng lại ở mức trung học phổ thông và cũng không được đào tạo nghề. Đây là điểm bất lợi lớn đối với phát triển KTTT của Tỉnh do việc chỉ dựa vào kinh nghiệm sẽ dẫn đến những lối mòn trong cách sản xuất cũng như tâm lý không muốn tiếp nhận cách thức, công nghệ sản xuất tiên tiến.

Kết quả điều tra về số lượng lao động của các trang trại cho thấy, số lao động sử dụng của mỗi trang trại trên địa bàn tỉnh tương đối cao với 50% trang trại có số lao động từ 11-20 người; 30% trang trại có số lao động từ 0-10 người và 20% trang trại có số lao động trên 20 người. 

Bên cạnh đó, nhìn từ góc độ giải quyết việc làm, lực lượng lao động chính trong 60 trang trại được điều tra có 48,3% là lao động thuê thường xuyên; 36,7% là lao động gia đình và 9% là lao động theo thời vụ. Số liệu này thể hiện khả năng giải quyết việc làm của các trang trại trên địa bàn tỉnh Bình Phước là khá lớn, nếu trừ đi tỷ lệ lao động gia đình thì số lao động thuê mướn chiếm đến 63,3%.

2. Đánh giá hiệu quả một số chính sách phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Bình Phước

2.1. Về quy hoạch phát triển KTTT

Khảo sát các chủ trang trại trên địa bàn tỉnh đánh giá về chính sách xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KTTT, có 58,3% ý kiến chủ trang trại cho rằng Tỉnh chưa có chính sách trong quy hoạch phát triển trang trại; 21,7% cho rằng quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hợp lý với quỹ đất; 11,7% ý kiến cho rằng quy hoạch phát triển cây trồng vật nuôi phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu thổ nhưỡng của mỗi địa phương; và 8,3% ý kiến của chủ trang trại cho rằng đã có quy hoạch kết cấu hạ tầng, thủy lợi, giao thông, cơ sở công nghiệp chế biến...

Theo kết quả khảo sát cán bộ lãnh đạo, quản lý làm việc tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bình Phước, có 38% ý kiến cho rằng quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hợp lý với quỹ đất; 28% ý kiến cho rằng quy hoạch phát triển cây trồng vật nuôi phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu thổ nhưỡng của mỗi địa phương; 22% ý kiến cho rằng Tỉnh chưa có chính sách trong quy hoạch phát triển trang trại, và 12% ý kiến cho rằng có quy hoạch kết cấu hạ tầng, thủy lợi, giao thông, cơ sở công nghiệp chế biến... 

Như vậy, thực tiễn hoạt động KTTT của tỉnh Bình Phước và kết quả điều tra khảo sát cho thấy, Tỉnh chưa có quy hoạch, kế hoạch phát triển KTTT; quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chưa hợp lý với quỹ đất và  quy hoạch phát triển cây trồng vậy nuôi chưa phù hợp với lợi thế đất đai, khí hậu thổ nhưỡng của mỗi địa phương (cơ cấu cây trông vật nuôi đa số do từng trang trại tự trồng trọt và chăn nuôi, manh mún và nhỏ lẻ). Bên cạnh đó, quy hoạch kết cấu hạ tầng, thủy lợi, giao thông, cơ sở chế biến chưa thực sự được chú trọng phát triển.

2.2. Về chính sách đất đai, đầu tư tín dụng 

Khảo sát về đánh giá chính sách đất đai, đầu tư tín dụng cho phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh, với 60 phiếu phát ra, có 70% ý kiến các chủ trang trại cho rằng không đáp ứng, đảm bảo nhu cầu phát triển KTTT; 22% ý kiến cho rằng đáp ứng, đảm bảo nhu cầu phát triển KTTT; và 8% ý kiến cho rằng đáp ứng, đảm bảo tốt nhu cầu phát triển KTTT. 

Đối với cán bộ quản lý, đối tượng tham mưu và xây dựng chính sách, kết quả khảo sát cho thấy, đa số cán bộ quản lý chính sách đầu tư tín dụng đánh giá chính sách về lĩnh vực mình phụ trách là chưa tốt, kế đến là chính sách đất đai, chính sách thị trường, chính sách lao động, chính sách khoa học - công nghệ và cuối cùng là chính sách thuế. Điều này cho thấy cán bộ quản lý có nhận định tương đồng đối với các chủ trang trại trên địa bàn tỉnh.

Như vậy, có thể nhận định, chính quyền Tỉnh chưa xây dựng chính sách đất đai, đầu tư tín dụng một cách hợp lý và hiệu quả; các chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT trong Tỉnh. Mặt khác, do đất đai của các trang trại cũng như diện tích đất chuyển nhượng và đi thuê không được cấp số đỏ (chỉ một phần rất nhỏ đất đai của các trang trại được cấp sổ đỏ) nên các trang trại không có tài sản thế chấp để đi vay vốn ngân hàng, dẫn đến số lượng vốn vay của các trang trại qua ngân hàng là rất thấp, ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh của trang trại. 

2.3. Về chính sách đào tạo nguồn nhân lực 

Trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của chủ trang trại có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các trang trại. Tuy nhiên, thực tế điều tra cho thấy năng lực của các chủ trang trại ở tỉnh Bình Phước đang là một rào cản đối với sự phát triển KTTT trên địa bàn.

Kết quả điều tra khảo sát cũng cho thấy lao động làm việc trong các trang trại chủ yếu là lao động phổ thông, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, nên việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, hay việc thực hiện các quy trình sản xuất mới, tính kỷ luật trong khi làm việc còn kém, dẫn đến hiệu quả làm việc của lao động không cao. Lao động trong các trang trại chủ yếu làm những công việc giản đơn như: bốc vác thức ăn, cho vật nuôi ăn hay gieo trồng, thu hoạch cây trồng..., thiếu lao động thực hiện các công việc kỹ thuật như: kiểm tra và kiểm soát dịch bệnh, chữa bệnh cho vật nuôi, đánh giá tỷ lệ heo tăng trọng...

Tuy nhiên, cũng theo kết quả điều tra, trong 60 chủ trang trại tham gia khảo sát, có 70% chủ trang trại vẫn cho rằng lao động trong trang trại đang đáp ứng được yêu cầu công việc; 21,7% cho rằng lao động đáp ứng tốt yêu cầu công việc; và 8,3% cho rằng lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc. Như vậy, mặc dù trình độ học vấn của người lao động thấp nhưng đa số lao động vẫn đáp ứng được yêu cầu công việc. Điều này cho thấy, để phát triển KTTT theo hướng hiện đại còn gặp nhiều khó khăn và thiếu rất nhiều lao động chất lượng có thể tìm tòi và ứng dụng kỹ thuật công nghệ chất lượng cao vào trồng trọt và chăn nuôi. 

2.4. Về chính sách nghiên cứu và ứng dụng khoa học -công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hóa 

Khoa học - công nghệ là một trong những nguồn lực quan trọng để đẩy nhanh quá trình phát triển; việc tiếp cận khoa học - công nghệ sẽ giúp cho trang trại sản xuất hiệu quả, nâng cao năng suất lao động, bên cạnh đó tiếp cận được những nguồn giống cây trồng vật nuôi tốt đạt năng suất, chất lượng cao.

Trong số 60 chủ trang trại tham gia khảo sát đánh giá chính sách nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói chung, KTTT nói riêng trên địa bàn tỉnh, có 51,7% chủ trang trại cho rằng Tỉnh chưa có chính sách hỗ trợ khoa học - công nghệ cho các trang trại; 28,3% cho rằng tiếp cận còn hạn chế; 20% còn lại cho rằng khả năng tiếp cận các nguồn giống tốt của cây trồng, vật nuôi… trong Tỉnh còn hạn chế. 

Điều này cho thấy vai trò của khoa học - công nghệ đối với nhiều trang trại ở Bình Phước vẫn đang khá mờ nhạt. Nhiều giống cây, con ở các trang trại, nhất là trang trại quy mô nhỏ, chủ yếu vẫn là giống truyền thống hoặc được lựa chọn theo kinh nghiệm. Năng suất, hiệu quả của các trang trại vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các dịch bệnh trong trồng trọt và chăn nuôi. Nhiều dịch bệnh chưa được ngăn chặn kịp thời như bệnh tuyến trùng ở cà phê, nấm ở cây cao su, bệnh tai xanh ở lợn, dịch cúm gia cầm… 

2.5. Những khó khăn, hạn chế trong phát triển KTTT

Ngoài những khó khăn nảy sinh do các chính sách chưa được thực thi một cách hiệu quả, điều tra khảo sát còn phát hiện một số vấn đề mà các trang trại đang vướng mắc, cần sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp. 

Trong 60 trang trại tham gia khảo sát, có 26,7% trang trại cho rằng gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay; 21,7% cho rằng gặp khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ; 13,3% cho rằng gặp khó khăn trong tiếp cận chính sách; 11,7% cho rằng gặp khó khăn do không có nguồn lao động tốt; 10% cho rằng gặp khó khăn trong tiếp cận ứng dụng khoa học - công nghệ; 10% cho rằng gặp khó khăn do thiếu diện tích đất; và 6,7% cho rằng gặp khó khăn do phải đóng thuế cao. Kết quả cho thấy, trang trại hiện đang gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động. Để hỗ trợ trang trại phát triển, chính quyền Tỉnh cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc mà KTTT gặp phải, từ việc hoàn thiện các chính sách tín dụng hỗ trợ vốn cho đến tìm kiếm thị trường hay tìm kiếm những mô hình phát triển KTTT hợp lý để áp dụng cho địa phương của mình.

Với những khó khăn đưa ra từ các chủ trang trại, cuộc điều tra tiến hành khảo sát cán bộ tham mưu chính sách làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh.

Kết quả khảo sát cán bộ lãnh đạo quản lý cho thấy, 32% ý kiến cán bộ cho rằng cần thực hiện tốt chính sách về thị trường tiêu thị sản phẩm của trang trại ở tỉnh Bình Phước; 26% ý kiến cho rằng cần thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển KTTT; 14% ý kiến cho rằng cần thực hiện tốt các chính sách đất đai, đầu tư tín dụng cho phát triển KTTT; 10% ý kiến cho rằng cần thực hiện tốt chính sách hợp tác, liên kết, sản xuất, kinh doanh giữa các trang trại và giữa trang trại với các tổ chức kinh tế khác trong vùng Đông Nam bộ với tỉnh Bình Phước; 8% ý kiến cho rằng cần thực hiện tốt các chính sách nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói chung, KTTT nói riêng ở tỉnh Bình Phước; 6% ý kiến cho rằng cần thực hiện tốt các chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển KTTT; và 4% ý kiến cho rằng cần đẩy mạnh liên kết vùng trong phát triển, nâng cao hiệu quả KTTT của tỉnh Bình Phước.

3. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Bình Phước

3.1. Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển KTTT của Tỉnh

Để phát triển KTTT trên địa bàn tỉnh Bình Phước đạt hiệu quả cần có chiến lược, mục tiêu theo từng giai đoạn và tập trung nghiên cứu để: (i) Hình thành nên những dòng cây giống có chất lượng cao, đặc trưng của địa phương; (ii) Lựa chọn những mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phù hợp với điều kiện của KTTT, khuyến khích phát triển theo đúng quy hoạch; (iii) Tạo sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản, giúp cho các trang trại có cơ sở xác định và rà soát lại phương hướng kinh doanh, tăng cường đầu tư, mở rộng kinh doanh phù hợp với quy hoạch chung.

3.2. Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ về đất đai, tín dụng 

Hoàn thiện chính sách đất đai tạo điều kiện cho phát triển KTTT

Đất đai là vốn tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp, là yếu tố quan trọng bậc nhất để hình thành nên các trang trại; vì vậy, việc giải quyết đúng mối quan hệ giữa sở hữu, sử dụng đất đai “hợp quy luật, hợp pháp, hợp lòng người” được coi là yếu tố cơ bản và tích cực để tạo ra “cú huých” ban đầu cho sự chuyển mình của KTTT.

Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng tạo điều kiện cho phát triển KTTT

KTTT là loại hình kinh tế hàng hóa. Để sản xuất ra hàng hóa thì quá trình sản xuất của nó phải gắn chặt với các hoạt động tài chính và tín dụng, đặc biệt là các loại vốn trung hạn, dài hạn và tín dụng ưu đãi. Một chính sách tài chính tín dụng hiệu quả sẽ tác động mạnh mẽ đến phát triển KTTT.

3.3. Hoàn thiện các chính sách đào tạo nguồn nhân lực 

Để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh của trang trại, nguồn nhân lực có vai trò rất lớn. Trong điều kiện kinh tế thị trường, nguồn nhân lực của trang trại bao gồm cả số lượng và chất lượng các thành viên trang trại và lao động làm thuê. Hiện tại, số lượng lao động cho sự phát triển KTTT tương đối đảm bảo nhưng chất lượng của lao động chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất theo cơ chế thị trường. Do đó, Tỉnh cần có chính sách để nâng cao chất lượng của nhân lực làm việc tại các trang trại thông qua phối hợp giữa các kênh doanh nghiệp, trường đại học, cao đẳng...

3.4. Hoàn thiện các chính sách nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nói chung, KTTT nói riêng 

Trang trại muốn tăng khả năng cạnh tranh phải nâng cao trình độ ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ bởi khoa học - công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong kinh doanh. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ mới về khoa học - công nghệ của KTTT ở hầu hết các địa phương trong Tỉnh còn nhiều hạn chế. Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh của KTTT ở tỉnh Bình Phước, cần tích cực nghiên cứu và ứng dụng khoa học - kỹ thuật.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương, 2008, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của BCH Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2012, Thông tư liên tịch Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011, Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 quy định tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận KTTT.
4. Bộ Tài chính, 2000, Thông tư số 82/2000/TT-BTC hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển KTTT.
5. Chính phủ, 2008, Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
6. Chính phủ, 2010, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
7. Nguyễn Đình Hương, chủ biên, 2000, Thực trạng và giải pháp phát triển  KTTT trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia.
8. HĐND tỉnh Bình Phước, Số 11/2016/NQ-HĐND, Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, Kỳ họp thứ ba.
9. Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước năm 2015, 2016, 2017 về KTTT.
10. Nghị quyết số 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

TS. Nguyễn Văn Điển

 Học viện Chính trị quốc gia khu vực II

Tạp chí Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội, số tháng 1+2/2018



(1) Số liệu thống kê bắt đầu từ năm 2011 trùng với năm thực hiện tiêu chí trang trại theo Thông tư 27/2011 TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận KTTT.



Tin khác

Bình luận

   

 

 

 

 

X
Nhấn vào để bình chọn